Tiểu đêm được định nghĩa là sự than phiền một cá nhân phải thức giấc vào ban đêm một hay nhiều lần để đi tiểu (ICS, 2002).
Theo thống kê, có 4% trẻ em trong độ tuổi từ 7-15 tuổi bị tiểu đêm thường xuyên, 58% ở phụ nữ và 66% nam giới trong độ tuổi 50-59; 72% ở phụ nữ, 91% nam giới trên 80 tuổi.
Trước đây, người ta cho rằng tiểu đêm là triệu chứng của các bệnh lý khác nhau, hoặc là một trong các triệu chứng của đường tiết niệu dưới (LUTS), nhưng hiện nay tiểu đêm không chỉ thấy trên bệnh nhân của phòng khám tiết niệu, mà còn thấy ở các phòng khám phụ khoa, lão khoa, thần kinh, phòng khám về giấc ngủ, nội tiết học … Đa niệu về đêm là nguyên nhân chính gây tiểu đêm (>70%).
Tiểu đêm là nguyên nhân thường gặp nhất gây gián đoạn giấc ngủ ở người trên 50 tuổi. Giấc ngủ bị gián đoạn sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc, sức khỏe, sức sống và nhịp sinh học …

Bệnh nhân tiểu đêm mới chợp mắt được khoảng 2-3 giờ của giấc đầu tiên thì bị đánh thức bởi buồn tiểu, do vậy tiểu đêm làm gián đoạn nghiêm trọng sóng chậm khi ngủ (SWS). Giảm sóng chậm khi ngủ sẽ giảm hiệu quả giấc ngủ, rối loạn thời gian dài hoặc ngắn của giấc ngủ và có thể dẫn đến tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong; Làm giảm sức khỏe (bao gồm tăng huyết áp, sự cân bằng nội môi của đường, cân bằng miễn dịch); Giảm chất lượng cuộc sống và năng suất làm việc.
Kết quả từ nhiều nghiên cứu cho thấy đi tiểu > 2lần/đêm là ngưỡng tác động tiêu cực có ý nghĩa đến tỷ lệ bệnh tật và tử vong, tỷ lệ gãy xương và chất lượng sống.
Đi tiểu 1lần/đêm là ít có khả năng có những hậu quả nghiêm trọng.
Nếu điều trị có thể làm giảm số lần tiểu đêm < 2lần/đêm, nguy cơ và sự khó chịu cho bệnh nhân có thể được giảm đáng kể.
Công cụ then chốt để đánh giá và chẩn đoán tiểu đêm là lập bảng ghi chép thời lượng đi tiểu (FVC- Flow volume Chart). Cần lưu ý khi ghi chép thực hiện FVC: thời điểm và lượng tiểu của mỗi lần tiểu, cả ngày cũng như đêm; Giờ đi ngủ, giờ thức giấc, để tính được khoảng thời gian đi ngủ; Tùy theo tình trạng bệnh nhân, có thể ghi FVC từ 3-7 ngày.
Dựa trên FVC, thầy thuốc có thể đánh giá: Tiểu nhiều lần vào ban ngày hay ban đêm; Đa niệu cả ngày hay đa niệu về đêm; Giảm dung tích bàng quang toàn bộ hay chỉ ban đêm; Cụ thể hóa về định lượng nhằm chẩn đoán tiểu đêm.
Sau khi đã xác định có tiểu đêm, bước tiếp theo là chẩn đoán phân loại gồm Đa niệu (polyuria); trong đó có đa niệu toàn bộ và đa niệu về đêm; phân loại đối với nhóm giảm dung tích bàng quang gồm giảm toàn bộ hay giảm dung tích bàng quang về đêm; phân loại dạng kết hợp giữa 2 nhóm trên và nhóm 4 là dạng không đa niệu cũng không giảm dung tích bàng quang.
Về điều trị chứng tiểu đêm bằng liệu pháp hành vi, điều chỉnh thói quen sinh hoạt là điều trị cơ bản ban đầu cho các bệnh nhân tiểu đêm. Bệnh nhân khi tham gia một hoặc nhiều liệu pháp hành vi sau đây sẽ mang lại một số hiệu quả nhất định. Điều trị thay đổi hành vi lối sống cũng thường kết hợp một cách có hiệu quả với điều trị đặc hiệu các nguyên nhân gây tiểu đêm.

Các phương thức thay đổi lối sống (lifestyle modifications) gồm có:
- Đi tiểu trước khi ngủ.
- Hạn chế uống nước sau khi ăn tối và trước khi đi ngủ. Cần cẩn thận đối với những người lớn tuổi đã quen uống nhiều nước.
- Tránh các thức uống lợi niệu: cà phê, bia rượu vào thời điểm chiều tối.
- Tập thể dục vào buổi tối: đi bộ, chơi thể thao nhẹ, yoga … huy động được lượng dịch gian bào vào hệ tuần hoàn máu, đẩy ra ngoài qua mồ hôi. Tạo giấc ngủ tốt và chống được stress.
- Tạo nơi ngủ thoải mái: giường, nệm, nhiệt độ, tiếng ồn, ánh sáng.
- Bệnh nhân có phù chi dưới nên băng chặt chân hay nâng cao chân một thời gian trước khi đi ngủ.
- Thay đổi thời gian dùng thuốc lợi niệu ở những bệnh nhân tăng huyết áp và suy tim sung huyết.
- Sử dụng thuốc an thần gây ngủ.
- Điều trị bệnh kết hợp: Đái tháo đường cần được kiểm soát.
Khi bệnh nhân thay đổi cách sống không đem lại hiệu quả, cần chuyển sang phương pháp điều trị khác. Phần lớn biểu hiện tiểu đêm là triệu chứng của hội chứng OAB. Dậy đi tiểu từ 2-3 lần trở lên là một trong những biểu hiện gây khó chịu nhất của triệu chứng đường tiết niệu dưới. Bệnh nhân OAB điển hình sẽ đi tiểu khoảng 12 lần/24 giờ với 2-3 lần/đêm và có khoảng 50% số lần kết hợp với tiểu gấp ở các mức độ nặng khác nhau.
Thuốc điều trị OAB đạt hiệu quả lâm sàng có ý nghĩa đối với triệu chứng này và thuốc nhóm kháng muscarinic là loại được ưu tiên chọn lựa. Các thuốc kháng muscarinic đạt hiệu quả cao khi điều trị tiểu nhiều lần ban đêm và thực tế chỉ có tác dụng điều trị tiểu đêm ở giai đoạn đi kèm tiểu gấp. Thuốc làm giảm 50% tiểu gấp và tỷ lệ thành công so với giả dược là 2/1.
Đối với điều trị tiểu đêm do tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt (BPH) tắc nghẽn bằng thuốc, căn cứ trên 2 tình trạng rối loạn động hay tĩnh. Một đánh giá hay được đề cập đến là về tác dụng của thuốc đối với đi tiểu nhiều lần ban đêm.
Thực tế có khoảng 67% nam giới biểu hiện đồng thời triệu chứng của cả 2 bệnh là BPH và OAB. Triệu chứng đường tiết niệu dưới có thể bao gồm các bệnh lý của tắc nghẽn đường tiết niệu dưới do BPH và OAB đồng thời gây khó khăn cho chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị. Chẩn đoán xác định căn cứ vào đo Qmax và thể tích tồn dư sau khi đi tiểu là cần thiết để chỉ định điều trị đồng thời cả 2 bệnh sớm hơn và tránh được nguy cơ bí tiểu do dùng thuốc kháng muscarinic.
Đối với người cao tuổi, cần đánh giá một cách toàn diện tiểu đêm ở người cao tuổi bao gồm xem xét kỹ về tiền sử bệnh lý, các thuốc đang dùng và khám lâm sàng cẩn thận và tỷ mỉ, đặc biệt tìm hiểu nguyên nhân của rối loạn giấc ngủ và đa niệu về đêm.
Việc bắt đầu điều trị ở bệnh nhân trên 65 tuổi không được khuyến cáo. Nếu bác sĩ quyết định bắt đầu điều trị bằng desmopressin cho những bệnh nhân này, phải định lượng natri huyết thanh trước khi bắt đầu điều trị và 3 ngày sau khi bắt đầu điều trị hoặc tăng liều và những thời điểm khác trong suốt thời gian dùng thuốc khi bác sĩ điều trị cho là cần thiết.
Một số chú ý khi điều trị tiểu đêm ở người cao tuổi:
- Dùng lợi tiểu vào buổi chiều có thể làm giảm tiểu đêm ở người bệnh bị suy tĩnh mạch ngoại biên hoặc suy tim sung huyết không đáp ứng với các can thiệp điều trị khác.
- Trong trường hợp OAB, tăng hoạt cơ chóp và hoặc tiểu không kiểm soát là những nguyên nhân chính gây tiểu đêm, việc dùng thuốc kháng muscarinic nên được xem xét.
- Nếu tiểu đêm chủ yếu do mất ngủ đơn thuần, có thể dùng an thần trong một thời gian ngắn.
- DDAVP không nên dùng ở những bệnh nhân già yếu vì nguy cơ gây hạ natri máu.
Văn Hanh