Tiểu đêm thường được diễn tả như là một triệu chứng trong một số bệnh lý khác nhau hoặc là một trong các triệu chứng đường tiết niệu dưới (LUTS). Các nghiên cứu cho thấy từ tiểu đêm đã thay đổi định nghĩa tùy theo điều kiện và là một từ ngữ mang tính tương đối.
Ngày nay, đây là tình trạng do nhiều nguyên nhân gây ra, nhưng có thể độc lập với các điều kiện khác gây ra LUTS (ví dụ: OAB, BPH). Chứng tiểu đêm mới được công nhận như một thực thể lâm sàng trong thời gian gần đây.
Ủy ban Tiêu chuẩn hóa của ICS nhận ra rằng các biện pháp nhằm thay đổi lối sống và tư vấn về sử dụng nước hợp lý có thể làm giảm hoặc loại bỏ tiểu đêm. Thực hiện thay đổi lối sống như giảm rượu bia, cà phê và một số thức uống khác gần giờ đi ngủ đã được chứng minh là giảm tiểu đêm. Người ta ước tính rằng khoảng một nửa số bệnh nhân bị tiểu đêm có chức năng bàng quang bình thường và sản xuất nước tiểu bình thường.

Trong 24 giờ lọc cầu thận khoảng 180 lít nước. Trong số này 90% được tái hấp thu ở ống lượn gần và quai Henle, 10% còn lại đi vào các ống lượn xa và ống góp, tại đó natri, nước cũng như một số yếu tố khác được tái hấp thu dưới tác động của aldosterone và ADH. Kết quả là lượng nước tiểu được sản xuất khoảng 1-2ml/phút trong điều kiện bình thường. Ở người lớn, khỏe mạnh việc sản xuất nước tiểu vào ban đêm là ít hơn một nửa thời gian trong ngày. Điều này một phần là do sự giảm sự bài tiết các chất hòa tan như natri, urê liên quan đến việc ăn uống và một phần là do tác động của ADH. Ở người lớn tuổi có tiểu đêm thì lượng nước tiểu ban đêm cao hơn và thể tích mỗi lần đi tiểu thấp hơn cho mỗi lần tiểu so với bệnh nhân lớn tuổi không có tiểu đêm.

Các nguyên nhân chính gây tiểu đêm bao gồm: Đa niệu về đêm, BPH, OAB, giảm dung tích bàng quang, bệnh lý tim mạch, đái tháo đường hoặc đái tháo nhạt, rối loạn giấc ngủ, giảm estrogen. Tiểu đêm được định nghĩa là sự than phiền một cá nhân phải thức giấc vào ban đêm một hay nhiều lần để đi tiểu (ICS, 2002). Theo thống kê, có 4% trẻ em trong độ tuổi từ 7-15 tuổi bị tiểu đêm thường xuyên, 58% ở phụ nữ và 66% nam giới trong độ tuổi 50-59; 72% ở phụ nữ, 91% nam giới trên 80 tuổi. Trước đây, người ta cho rằng tiểu đêm là triệu chứng của các bệnh lý khác nhau, hoặc là một trong các triệu chứng của đường tiết niệu dưới (LUTS), nhưng hiện nay tiểu đêm không chỉ thấy trên bệnh nhân của phòng khám tiết niệu, mà còn thấy ở các phòng khám phụ khoa, lão khoa, thần kinh, phòng khám về giấc ngủ, nội tiết học … Đa niệu về đêm là nguyên nhân chính gây tiểu đêm (> 70%).
Tiểu đêm là nguyên nhân thường gặp nhất gây gián đoạn giấc ngủ ở người trên 50 tuổi. Giấc ngủ bị gián đoạn sẽ ảnh hưởng đến hạnh phúc, sức khỏe, sức sống và nhịp sinh học …
Bệnh nhân tiểu đêm mới chợp mắt được khoảng 2-3 giờ của giấc đầu tiên thì bị đánh thức bởi buồn tiểu, do vậy tiểu đêm làm gián đoạn nghiêm trọng sóng chậm khi ngủ (SWS). Giảm sóng chậm khi ngủ sẽ giảm hiệu quả giấc ngủ, rối loạn thời gian dài hoặc ngắn của giấc ngủ và có thể dẫn đến: Tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong; Làm giảm sức khỏe (bao gồm tăng huyết áp, sự cân bằng nội môi của đường, cân bằng miễn dịch); Giảm chất lượng cuộc sống và năng suất làm việc.
Kết quả từ nhiều nghiên cứu cho thấy đi tiểu > 2lần/đêm là ngưỡng tác động tiêu cực có ý nghĩa đến tỷ lệ bệnh tật và tử vong, tỷ lệ gãy xương và chất lượng sống. Đi tiểu 1lần/đêm là ít có khả năng có những hậu quả nghiêm trọng. Nếu điều trị có thể làm giảm số lần tiểu đêm < 2lần/đêm, nguy cơ và sự khó chịu cho bệnh nhân có thể được giảm đáng kể.
Sau khi đã xác định có tiểu đêm, bước tiếp theo là chẩn đoán phân loại gồm Đa niệu (polyuria); trong đó có đa niệu toàn bộ và đa niệu về đêm; phân loại đối với nhóm giảm dung tích bàng quang gồm giảm toàn bộ hay giảm dung tích bàng quang về đêm; phân loại dạng kết hợp giữa 2 nhóm trên và nhóm 4 là dạng không đa niệu cũng không giảm dung tích bàng quang.
Về điều trị chứng tiểu đêm bằng liệu pháp hành vi, điều chỉnh thói quen sinh hoạt là điều trị cơ bản ban đầu cho các bệnh nhân tiểu đêm. Bệnh nhân khi tham gia một hoặc nhiều liệu pháp hành vi sau đây sẽ mang lại một số hiệu quả nhất định. Điều trị thay đổi hành vi lối sống cũng thường kết hợp một cách có hiệu quả với điều trị đặc hiệu các nguyên nhân gây tiểu đêm.
Các phương thức thay đổi lối sống (lifestyle modifications) gồm có:
Đi tiểu trước khi ngủ.
Hạn chế uống nước sau khi ăn tối và trước khi đi ngủ. Cần cẩn thận đối với những người lớn tuổi đã quen uống nhiều nước.
Tránh các thức uống lợi niệu: cà phê, bia rượu vào thời điểm chiều tối.
Tập thể dục vào buổi tối: đi bộ, chơi thể thao nhẹ, yoga … huy động được lượng dịch gian bào vào hệ tuần hoàn máu, đẩy ra ngoài qua mồ hôi. Tạo giấc ngủ tốt và chống được stress.
Tạo nơi ngủ thoải mái: giường, nệm, nhiệt độ, tiếng ồn, ánh sáng.
Bệnh nhân có phù chi dưới nên băng chặt chân hay nâng cao chân một thời gian trước khi đi ngủ.
Thay đổi thời gian dùng thuốc lợi niệu ở những bệnh nhân tăng huyết áp và suy tim sung huyết.
Sử dụng thuốc an thần gây ngủ.
Điều trị bệnh kết hợp: Đái tháo đường cần được kiểm soát.
Minh Tâm