[Đăng ngày: 17/08/2018]
Tháng 7/2018, Sở Y tế tỉnh phối hợp Bệnh viện lão khoa Trung ương tổ chức khóa tập huấn “Một số bệnh và hội chứng thường gặp trong lão khoa” cho cán bộ y tế tỉnh Khánh Hòa. ThS Tạ Hữu Ánh - Bệnh viện Lão khoa Trung ương trình bày chuyên đề bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).

Theo định nghĩa GOLD – 2012, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là tình trạng bệnh có rối loạn thông khí tắc nghẽn không có khả năng hồi phục hoàn toàn. Sự hạn chế thông khí thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi do các phân tử hoặc khí độc hại. Như vậy, đặc điểm của COPD là tắc nghẽn lưu lượng thở dần dần và không hồi phục. Các bệnh xơ hóa kém, giãn phế quản lan tỏa, viêm tiểu phế quản tận tắc nghẽn có hạn chế lưu lượng thở ra nhưng không gọi là COPD. COPD có thể dự phòng và điều trị được với một số hậu quả ngoài phổi giúp giảm tình trạng nặng của bệnh nhân. Tổ chức Y tế thế giới, Viện tim mạch và  Phổi Mỹ xâydựng chương trình phòng chống COPD, tháng 4/2002 lấy ngày 18/11 hàng năm là ngày bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính toàn cầu.

Theo Bệnh viện Bạch Mai, tại Việt Nam tỷ lệ bệnh nhân chẩn đoán ra viện là COPD chiếm hơn 25%, đứng hàng đầu trong các bệnh lý hô hấp (1996-2000). Báo cáo thống kê của Bệnh viện phổi Trung ương tháng 2/2010, nghiên cứu trên 25.000 người, tuổi 15 trở lên tại 70 điểm thuộc 48 tỉnh, thành phố, cho kết quả tỉ lệ mắc COPD chung toàn quốc là 2,2%; trong đó nam giới là 3,4%; nữ giới là 1,1%. Tuổi trên 40 chiếm 4,2%; dưới 40 tuổi 0,4%. Ở miền Bắc tỉ lệ bệnh 5,7%; miền Trung 4,6%; miền Nam thấp hơn là 1,9%. 

ThS Tạ Hữu Ánh - Bệnh viện Lão khoa Trung ương cho biết, thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh COPD gấp 10 lần so với người không hút. Có 15-20% số người hút thuốc lá có triệu chứng COPD, 80-90% các bệnh nhân COPD có hút thuốc lá. Yếu tố nguy cơ do ô nhiễm môi trường là khói nhà máy, bếp than, bụi đá; không khí lạnh, nhiệt độ quá dao động; hoặc do nhiễm trùng hô hấp viêm phế quản mạn, hoặc do yếu tố cá thể ở người trẻ, tăng sự phản ứng của phế quản; thiếu men phân giải đạm trong máu; do tuổi già, giới tính nam.

Bệnh COPD khởi đầu ở bệnh nhân thường trên 40 tuổi; tiền sử hút thuốc hoặc nghề nghiệp tiếp xúc với khói, bụi ô nhiễm. Triệu chứng khó thở xấu dần theo thời gian, nặng lên khi gắng sức. Khó thở có từ vài năm hoặc hơn, có những đợt nhiễm khuẩn hô hấp cấp. Người bệnh mô tả khó thở khi gắng sức, nặng ngực, thiếu không khí. Người bệnh có thể ho ngắt quãng, ho khan, ho có đờm. Một số gợi ý người bệnh mắc COPD là khạc đờm mạn tính, do vậy bất kỳ đặc điểm nào của khạc đờm mạn tính đều gợi ý COPD. Đặc điểm đờm nhầy, trong, đợt cấp có bội nhiễm thì màu vàng. Triệu chứng toàn thân bệnh nhân có lồng ngực cố định ở vị trí thở vào (hình thùng), lồng ngực cử động cả khối. Bệnh nhân có kiểu thở mím môi, thở rít, nhất là khi gắng sức, sử dụng các cơ hô hấp phụ, cơ liên sườn, co kéo hõm ức, hố thượng đòn. Bệnh nhân có hô hấp đảo nghịch, có sử dụng cơ ngực khi thở ra. Có dấu hiệu Hoover là giảm đường kính phần dưới lồng ngực khi hít vào.

Khám phổi sờ thấy rung thanh quản; gõ vang nhất là trường hợp bệnh nhân giãn phế nang; nghe rì rào phế nang giảm là triệu chứng chính, tương ứng FEV1 giảm. Phổi có tiếng thở rít, ran rít, ran ngáy là dấu hiệu của tắc nghẽn phế quản. Trong trường hợp bội nhiễm có thể nghe ran ẩm, ran nổ. Tiếng tim mờ, nhỏ; dấu hiệu tăng áp lực động mạch phổi là mắt lồi như mắt ếch do tăng mạch máu màng tiếp hợp; tim nhanh có thể loạn nhịp hoàn toàn; tĩnh mạch cổ nổi, đập theo nhịp tim, gan to, đau vùng gan; có thể phù chân, cổ chướng. Trong đợt cấp bệnh nhân có biểu hiện suy hô hấp, tím tái, mạch nhanh, nhức đầu, vã mồ hôi, giãn mạch dưới da, ngủ gật, lú lẫn, có thể hôn mê do tăng CO2 máu. Xét nghiệm khí máu PaO2 giảm, PaCO2 tăng, pH máu giảm. Bệnh nhân thường tử vong trong đợt bùng phát.

Đo chức năng hô hấp là phương pháp tốt nhất phát hiện COPD, theo dõi FEV1 và FEV1/VC (Tiffeneau) < 70%; hoặc FEV1/FVC (Gaensleur) < 70%. Đo chức năng hô hấp giúp đánh giá mức độ nặng nhẹ COPD; theo dõi tiến triển lâm sàng, đánh giá đáp ứng điều trị và tiên lượng, phát hiện dung tích phổi, thể tích khí cặn RV (tăng).
Để phân biệt với hen phế quản, dùng test hồi phục phế quản bằng cách dùng Salbutamol phun hít 400 µg sau 20 phút; nếu FEV1 tăng hơn 12% hoặc tăng hơn 200 ml là có rối loạn thông khí tắc nghẽn có hồi phục (hen phế quản).
Sử dụng nghiệm pháp Corticoid, xác định đáp ứng bệnh nhân sau 6 tuần đến 3 tháng điều trị. Sử dụng corticoid dạng xịt, đáp ứng điều trị khi FEV1 tăng > 200 ml và/hoặc > 12% giá trị cơ bản của bệnh nhân. Đây là test để quyết định điều trị corticoid kéo dài cho bệnh nhân – ThS Ánh lưu ý. 

Về chẩn đoán xác định COPD dựa trên bệnh nhân có tiền sử hút thuốc, phơi nhiễm với các yếu tố gây bệnh; có triệu chứng ho, khạc đờm (3 tháng/năm trong 2 năm liền) khó thở tăng dần. Đối với người không có tiền sử hút thuốc chú ý xem có thiếu α 1 antitrysin. Khám thực thể có ran rít, ran ngáy, ran nổ, tiếng thở rít, rì rào phế nang giảm, gõ vang. Đo chức năng hô hấp FEV1/VC < 70% (thở giây đầu tiên chỉ đạt 70%), FEV1/FVC< 70%; FEV1 giảm. ThS Ánh lưu ý đôi khi chẩn đoán không nhất thiết phải có dấu hiện lâm sàng.

Chẩn đoán phân biệt COPD với các bệnh hen; suy tim sung huyết, giãn phế quản, lao phổi, viêm tiểu phế quản tắc nghẽn. Dấu hiệu gợi ý hen là bệnh thường xuất hiện khi còn trẻ, các dấu hiệu thay đổi từng ngày; các triệu chứng thường xuất hiện vào ban đêm/sáng sớm. Bệnh nhân có thể có dị ứng, viêm khớp, và/hoặc eczema; tiền sử gia đình có hen; rối loạn thông khí tắc nghẽn có khả năng hồi phục nhiều. Đối với suy tim sung huyết có dấu hiệu như nghe phổi có ran ẩm; trên X-quang có hình ảnh bóng tim to, phổi ứ huyết; xét nghiệm chức năng hô hấp thấy rối loạn thông khí hạn chế; siêu âm tim giúp chẩn đoán. Đối với giãn phế quản, bệnh nhân khạc nhiều đờm, liên quan với các đợt nhiễm trùng hô hấp; nghe có ran nổ, ran ẩm to hạt; ngón tay hình dùi trống. Phim X-quang có hình ảnh dày thành phế quản. Chụp CT-Scan có hình ảnh giãn phế quản. Đối với bệnh lao phổi, gợi ý chẩn đoán là X-quang ngực có hình ảnh thâm nhiễm, nốt. Xét nghiệm vi sinh thấy trực khuẩn lao giúp khẳng định chẩn đoán. Đối với viêm tiểu phế quản tắc nghẽn, xảy ra ở người trẻ không hút thuốc, tiền sử có viêm khớp dạng thấp hoặc tiếp xúc với khói; chụp CT-Scan phổi thì thở ra thấy nhiều vùng giảm tỷ trọng.

ThS Tạ Hữu Ánh cho biết, theo GOLD-2012, chẩn đoán mức độ nặng COPD chia làm 4 giai đoạn. Giai đoạn không nguy cơ đo phế dung kế bình thường, có các triệu chứng mạn tính ho, bài tiết đờm. Giai đoạn nhẹ FEV1/FVC< 70%; giai đoạn COPD vừa có FEV1/FVC< 70%; 50% < FEV1 < 80% trị số lý thuyết, có các triệu chứng mạn tính ho, đờm, khó thở. Giai đoạn COPD nặng có FEV1/FVC < 70%; 30% < FEV1 < 50% trị số lý thuyết; bệnh nhân khó thở tăng, tái phát, ảnh hưởng cuộc sống. Giai đoạn COPD rất nặng có FEV1/FVC < 70%; FEV1 < 30% trị số lý thuyết; FEV1 < 50% kèm biến chứng suy hô hấp mạn, chất lượng sống bị ảnh hưởng nặng nề, tử vong trong đợt cấp.
Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 179

Số lượt truy cập: 9296246

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang