Thuật ngữ “thấp còi” được sử dụng để mô tả tình trạng trẻ em không đạt được đầy đủ chiều cao theo độ tuổi. Thể hiện ở chỉ số “chiều cao theo tuổi” (H/A) thấp dưới -2,0 Z-Scorre (hoặc <-2 SD so với quần thể chuẩn WHO-2006). Thấp còi là một thể suy dinh dưỡng (SDD) mạn tính đề cập đến chỉ số chiều cao thấp so với tuổi, phản ánh sự duy trì và tích lũy lâu dài suy dinh dưỡng và/hoặc nhiễm khuẩn lặp đi lặp lại. Những yếu tố chủ yếu tác động trực tiếp đến thể SDD này là cung cấp các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng không đầy đủ, an ninh lương thực không đảm bảo, an toàn thực phẩm kém.
Thấp còi là hậu quả không thể đảo ngược được mà nguyên nhân chính do trẻ không nhận được đủ thức ăn và chất lượng thức ăn không đảm bảo trong 1.000 ngày đầu tiên của cuộc sống, là từ khi bà mẹ mang thai đến ngày sinh nhật thứ hai của đứa trẻ. Hầu hết các trường hợp thấp còi xảy ra khi trẻ được 3 tuổi. Suy dinh dưỡng thấp còi ảnh hưởng đến phát triển thể lực, trí lực, sức khỏe, bệnh tật trước mắt và lâu dài. Trẻ thấp còi sẽ có chiều cao thấp ở tuổi trưởng thành ảnh hưởng đến tầm vóc, nòi giống dân tộc. Sự thiếu hụt dinh dưỡng kéo dài làm giảm khả năng nhận thức, trí thông minh, kết quả học tập, năng suất lao động và thu nhập quốc dân. Trẻ bị SDD thấp còi thường hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn do suy giảm hệ miễn dịch và sau này cũng dễ có nguy cơ thừa cân, béo phì, đái tháo đường, tim mạch, tăng huyết áp… Ảnh hưởng của SDD thấp còi là vĩnh viễn và không thể đảo ngược lại được. Nói cách khác, trẻ em còi cọc không bao giờ lấy lại độ cao đã bị mất do hậu quả của thấp còi và hầu hết trẻ em thấp còi cũng sẽ không bao giờ đạt được trọng lượng cơ thể tương ứng. Chậm phát triển cũng dẫn đến tử vong sớm sau này trong cuộc sống bởi vì các cơ quan quan trọng không bao giờ được phát triển đầy đủ trong thời thơ ấu.
Có sự khác biệt giữa thiếu cân, gầy còm và thấp còi hay không; Theo các chuyên gia dinh dưỡng, thiếu cân dùng để chỉ một tình trạng cân nặng thấp so với tuổi ở trẻ em. Gầy còm (hoặc suy dinh dưỡng cấp tính), thường là kết quả của việc giảm cân liên quan đến sự đói ăn và bệnh tật trong một khoảng thời gian gần đây, biểu hiện qua chỉ số cân nặng/chiều cao thấp.

Theo viện Dinh Dưỡng, các nghiên cứu Việt Nam tiến hành trong thập niên 90 của thế kỷ XX cho thấy chiều cao tăng lên so với năm 1975, mức tăng 3,7 cm với nam và 3 cm với nữ. Tuổi đạt được chiều cao trung bình lớn nhất hiện ghi nhận được ở nhóm thanh niên 20-24 tuổi (năm 2000 nhóm 24-26 tuổi đạt chiều cao trung bình lớn nhất). Gần đây, một số công trình nghiên cứu và phân tích khuynh hướng thể lực và tăng trưởng ở người Việt Nam (cả ở trẻ em và người trưởng thành) xác định đã có khuynh hướng gia tăng tăng trưởng cả ở trẻ em và người lớn, ước đạt 1,2 cm/thập kỷ ở nam trưởng thành và 1cm/thập kỷ ở nữ trưởng thành. Hiện nay, chung cho toàn quốc: chiều cao của nam trưởng thành khoảng 164,4cm và nữ trưởng thành 153,4cm.
So sánh chiều cao người trưởng thành theo điều tra toàn quốc năm 2010 với chiều cao của sinh viên đại học tại Hà Nội là một trong những nhóm đối tượng phần lớn được chăm sóc dinh dưỡng tốt hơn trong cộng đồng- đã cho thấy chiều cao của nhóm sinh viên này cao hơn rất nhiều so với chiều cao chung. Tuy rằng, ngay cả nhóm sinh viên này cũng đã từng bị ảnh hưởng bởi một tỷ lệ thấp còi cao khi còn nhỏ cho nên chắc chắn chiều cao của họ chưa phải là chiều đúng theo tiềm năng. Có thể thấy, chiều cao chung của người Việt Nam vẫn còn ở mức rất khiêm tốn. Như vậy, có thể khẳng định, chiều cao người Việt nam sẽ được cải thiện trong tương lai khi tình trạng thấp còi được giải quyết trong những năm đầu của cuộc đời một con người.
Trần Hưng