Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là nguyên nhân hàng đầu của bệnh suất và tử suất trên thế giới. Năm 1990 theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đứng hàng thứ 12 trong số những bệnh nặng. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 sau bệnh tim, ung thư, bệnh mạch máu não.
Theo báo cáo kết quả họp nhóm tư vấn của Châu Á Thái Bình Dương về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính lần thứ VI 1-2/6/2002 tại Hồng Kông thì tại các nước Châu Á Thái Bình Dương, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính khoảng 3,8%, nhưng gần đây qua một số mẫu nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lên đến 6,3% ở người trên 30 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở các nước đang hút thuốc lá nhiều, tỷ lệ nam cao hơn nữ. Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố cơ địa, các biểu hiện lâm sàng có ảnh hưởng tới tiến triển của bệnh.

Vừa qua nhóm tác giả Nguyễn Thị Tâm Thuận cùng cộng sự bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương thực hiện nghiên cứu mô tả, tiến cứu, cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính”. Có 55 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: tuổi trên 45; phù hợp tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đợt cấp: theo tiêu chuẩn GOLD-2014; bệnh nhân tự nguyện tham gia vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân không hợp tác hoặc không tiến hành đo được chức năng hô hấp; bệnh nhân đã dùng thuốc dãn phế quản đường hít trong vòng 6 giờ trước khi đo; các bệnh nhân suy hô hấp nặng, có chỉ định đặt nội khí quản cấp cứu, rối loạn thần kinh ý thức, rối loạn huyết động; các bệnh nhân có cơn khó thở do các nguyên nhân khác như cơn hen phế quản, hen tim, tràn dịch màn phổi, tràn khí màng phổi, viêm phổi …; bệnh nhân có các bệnh khác phối hợp như: nhồi máu cơ tim cấp hoặc đau thắt ngực không ổn định < 3 tháng, suy tim nặng.

Tác giả nghiên cứu phân tích báo cáo, độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 74,4 tuổi; tuổi thấp nhất là 54 tuổi cao nhất là 88 tuổi, độ tuổi hay gặp là trên 71 tuổi chiếm 71%, cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của các tác giả khác. Nhóm nghiên cứu chủ yếu là nam chiếm 96,4%, nữ giới chiếm 3,6%. Kết quả của nghiên cứu cũng tương tự như các kết quả nghiên cứu trong nước. Sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ được cho rằng có liên quan giữa tỷ lệ hút thuốc lá cũng như mức độ hút thuốc lá với giới tính. Nhận định trên cũng phù hợp với kết luận của WHO: việc hút thuốc lá đã được xác định là nguy cơ hàng đầu gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nó làm gia tăng tốc độ giảm FEV1 và trở thành một trong 6 nguy cơ gây tử vong của 8 bệnh hàng đầu trong đó có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Khi đánh giá các chỉ tiêu cơ bản về thể trạng của bệnh nhân, kết quả nghiên cứu về cân nặng trung bình của bệnh nhân là 51,8 + 2,7kg. Kết quả này tương tự như các tác giả trong nước.
Tác giả báo cáo đặc điểm lâm sàng, triệu chứng của bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là sự phối hợp rất phong phú các triệu chứng tại cơ quan hô hấp, với biểu hiện triệu chứng của hội chứng phế quản và hội chứng khí phế thũng. Trong đợt bùng phát cùng với tình trạng nhiễm trùng thì mức độ nặng của các triệu chứng tăng lên. Theo kết quả nghiên cứu của BS.Tâm Thuận, có thời gian mắc bệnh trung bình 6,87 + 4,23 năm, số đợt cấp (hay còn gọi là bùng phát) trong 1 năm từ 2-3 đợt chiếm 60%, với biểu hiện như vậy được gọi là đợt bùng phát thường xuyên. Có thể giải thích điều này là do nghiên cứu ở nhóm Bệnh nhân điều trị nội trú vì đợt cấp, các bệnh nhân vào viện nội trú là bệnh nhân thường xuyên có đợt cấp. Nguyên nhân chính tác giả cho rằng quản lý điều trị ngoại trú chưa tốt. Vì thế, cần phải quan tâm hơn đến việc điều trị ngoại trú tại nhà cho bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, vấn đề dùng vắc xin dự phòng theo khuyến cáo còn chưa được quan tâm đúng mức nên thường xuyên xảy ra các đợt bùng phát.
Trong nghiên cứu, triệu chứng khi vào viện chủ yếu là: khó thở (chiếm 98,2%), ho đờm (chiếm 90,9%), sốt (chiếm 36,4%), đây cũng là các triệu chứng thường gặp trong đợt bùng phát. Về tiền sử bệnh kết hợp thì tăng huyết áp (32,7%), lao phổi (7,3%) kết quả này là phù hợp do độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 74 tuổi và tỷ lệ bệnh tăng huyết áp tăng dần theo tuổi. Kết quả nghiên cứu về đặc điểm triệu chứng lâm sàng trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính biểu hiện khó thở 96,4%, tím môi chiếm 96,4% sau đó là ho khạc đờm có tỷ lệ 92,7%. BS. Thuận cho rằng với sự khó thở thường xuyên là đặc tính của bệnh, do những biến đổi cấu trúc đường thở và nhu mô phổi không có khả năng phục hồi như sự phá hủy phế quản, thì trong đợt bùng phát thêm vào đó có thể là sự gia tăng của vi khuẩn nên tăng tiết nhày, viêm phù nề niêm mạc phế quản, kết hợp với co thắt cơ trơn phế quản làm cho bệnh nhân càng khó thở.
Đánh giá triệu chứng thực thể đối với đối tượng nghiên cứu, dấu hiệu Campell, Hoover ở 40/55 bệnh nhân chiếm 72,7% và rút lõm khe gian sườn chiếm tỷ lệ 70,9%, rì rào phế nang giảm gặp ở 98,2% bệnh nhân; ran rít, ran ngáy gặp 49/55 bệnh nhân chiếm 89,1% và ran ẩm, ran nổ gặp 39/55 bệnh nhân chiếm 70,9%. Khi đánh giá giai đoạn bệnh dựa theo GOLD 2014, kết quả nghiên cứu cho thấy trong 55 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chủ yếu gặp bệnh nhân giai đoạn III chiếm 45,5% và giai đoạn IV có 32,7%, có ít bệnh nhân giai đoạn II:21,8%, không có bệnh nhân mắc bệnh ở giai đoạn I. Tác giả cho rằng, sở dĩ sự vắng mặt giai đoạn I vì ở giai đoạn I bệnh còn nhẹ, thường chưa có biểu hiện triệu chứng khó thở nặng do chưa có tắc nghẽn đường thở nặng bệnh nhân chỉ ho ít và vẫn sinh hoạt bình thường. Nhưng khi bệnh tiến triển đến giai đoạn nặng hơn ho khạc đờm nhiều liên tục và khó thở nặng hơn và hay bị đợt cấp khiến bệnh nhân phải vào viện điều trị nội trú tại bệnh viện. Chúng tôi cũng áp dụng theo phân loại Anthonisen, kết quả cho thấy, trong 55 bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thì chủ yếu là mức độ nặng (60,0%) sau đó đến mức độ vừa (38,2%), ít bệnh nhân có mức độ nhẹ (1,8%).
Khi đánh giá mức độ khó thở theo mMRC cho thấy đa số bệnh nhân có mức độ khó thở theo mMRC ở mức độ 3 chiếm 63,6% sau đó đến mức độ 2, 4 chiếm tỷ lệ bằng nhau 18,2%.
Phân loại ảnh hưởng tình trạng sức khỏe theo bảng câu hỏi CAT cho thấy: đa số bệnh nhân có tình trạng sức khỏe theo CAT ở mức độ 3 (21-30 điểm) chiếm 60,0% sau đó đến mức độ 2,4 chiếm tỷ lệ lần lượt là 18,2% và 21,8%; tương tự như vậy đa số bệnh nhân phân nhóm giai đoạn mới của GOLD ở mức độ C chiếm 63,6% sau đó đến mức độ D, C chiếm tỷ lệ lần lượt là 27,3% và 9,1%.
Thanh Tùng