[Đăng ngày: 18/02/2019]
Tại Việt Nam, báo cáo tình hình dịch tễ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên toàn quốc cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở những người từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, niền Bắc nhiều hơn miền Nam. Các yếu tố tiên lượng tử vong gồm tuổi, mức độ khó thở theo MRC, FEV1 so với giá trị dự đoán, nhiều đợt cấp trong tiền sử, bệnh đồng phát, tiền sử sử dụng Corticosteroid đường uống kéo dài, triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng nguy cơ. Một số nghiên cứu ở Việt Nam nhận xét tỷ lệ bệnh nặng và tử vong trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 10% đến 18%. Các yếu tố tiên lượng nặng cho bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gồm rối loạn tri giác, nhịp thở > 30 lần/phút, chỉ số pH PaCO2, PaO2/FiO2, FEV1 so với giá trị dự đoán. Việc quản lý và điều trị dự phòng, tránh các đợt bùng phát cấp tính gây đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính phải nhập viện là điều cần thiết và nên làm nhằm đem lại hiệu quả thiết thực, cải thiện được chức năng hô hấp, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Từ tháng 2/2014 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Thế Hiền cùng cộng sự Khoa Y Dược, trường Đại học Trà Vinh thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính tại bệnh viện đa khoa trung tâm Tiền Giang”.

Có 120 đối tượng nghiên cứu tham gia, đối tượng nghiên cứu đã có chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trước đó: dựa vào kết quả đo chức năng hô hấp từ hồ sơ quản lý ngoại trú trong vòng 12 tháng với FEV1/FVC < 70% sau dùng thuốc dãn phế quản. Bệnh nhân chưa được chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: chẩn đoán sơ bộ theo thang điểm CT-COPD: tiêu chuẩn lâm sàng > 140 điểm hoặc tiêu chuẩn lâm sàng và X quang ngực > 210 điểm. Các bệnh nhân này được tái chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính sau xuất viện 8 tuần bằng cách đo chức năng hô hấp ở phòng khám hô hấp: FEV1/FVC < 0,7 sau dùng thuốc dãn phế quản.

Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: dựa trên ba triệu chứng lâm sàng chính là: khó thở, tăng lượng đàm và đàm có nhầy mủ.

Đối với đặc điểm cận lâm sàng:
- Số lượng bạch cầu máu: kết quả trung vị bạch cầu máu trong đợt cấp nhập viện là 11050/mm3. Kết quả của nghiên cứu tương tự kết quả trong nghiên cứu của Trần Thị Hằng (2011) và Nguyễn Văn Thành với bạch cầu lần lượt là 10190 + 4300/mm3 và 12200 + 5200/mm3. Của Trần Xuân Quỳnh (2014) là 11400/mm3. Moberg M (2014) nghiên cứu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định cho kết quả bạch cầu có trung vị 8700/mm3. Nhiễm trùng là một trong những tác nhân gây ra đợt cấp, do vậy bạch cầu máu trong đợt cấp có thể cao hơn so với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định.

- Nồng độ CRP-hs huyết thanh: CRP là một chất chỉ điểm sinh học của hiện tượng viêm, sau giai đoạn kích thích cấp, nồng độ CRP tăng cao. Gần đây một số công trình nghiên cứu nồng độ CRP huyết thanh tăng cao trên những bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định và trong đợt cấp và nó là chất chỉ điểm sinh học cho yếu tố nhiễm trùng trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tuy nhiên, trong đa số các nghiên cứu chưa cho thấy CRP có vai trò như là yếu tố tiên lượng trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Trong nghiên cứu tác giả nhận xét, đa số bệnh nhân tăng CRP trong huyết thanh với trị số trung bình 78 mg/dl. Trong các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy: Nồng độ CRP trung bình trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành là 7,1 + 5,1 mg/dl. Gupta R (2012) cho kết quả CRP lúc nhập viện của bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là 50,71 + 22,64 mg/dl và sau xuất viện 6 tuần là 8,31 + 9,0 mg/dl. Theo Stolz D (2007), Moberg M (2014) nghiên cứu CRP ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có trung vị là 6 mg/dl.

Bác sĩ Phạm Thế Hiền có kết luận, tỷ lệ rối loạn tri giác là 32,5%. Dấu hiệu sinh tồn: mạch nhanh 102 lần/phút và nhịp thở nhanh 28 lần/phút. Triệu chứng suy hô hấp: xanh tím chiếm 42,50%, 100% co kéo cơ hô hấp phụ mức độ trung bình – nặng và độ bão hòa oxy trung bình là 88,47%. Có 43,3% bệnh nhân có phù chi dưới. Số lượng bạch cầu trung bình 11050/mm3. Nồng độ CRP trung bình là 78 mg/dl. Khí máu động mạch: pH máu trung bình 7,30, PaCO2 = 54,34 mmHg, PaO2 = 75,28 mmHg, HCO3 = 25,66 mmol/l. Tỷ lệ rối loạn nhịp trên điện tâm đồ là 42,5% và 35% dầy nhĩ phải.
Tường Huân
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 323

Số lượt truy cập: 9352395

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang