Gãy xương ở cơ quan vận động thường gặp do nhiều nguyên nhân.

Ở các nước phát triển, nguyên nhân gãy xương do tai nạn lao động (TNLĐ), tai nạn sinh hoạt, tai nạn thương tích chiếm tỷ lệ cao, nhưng ở Việt Nam nguyên nhân gãy xương do tai nạn giao thông (TNGT) lại là phổ biến nhất. Trong điều trị gãy xương ở cơ quan vận động, vấn đề cấp cứu ban đầu đóng vai trò rất quan trọng. Cấp cứu đúng kỹ thuật, đúng phương pháp, băng bó cố định ổ gãy xương vững chắc sẽ giảm tỷ lệ các biến chứng toàn thân và tại chỗ như sốc do đau đớn, mất máu, tránh các tổn thương gãy xương kín chọc thủng qua da thành gãy xương hở và làm tổn thương mạch máu, thần kinh. Mặt khác cấp cứu sớm còn tạo điều kiện cho tuyến sau xử trí được thuận lợi hơn…
Mặc dù cấp cứu các tai nạn thương tích nói chung, tai nạn gãy xương ở cơ quan vận động nói riêng là mối quan tâm chung của tất cả các quốc gia trên thế giới, đã được đưa vào giáo dục trong các nhà trường, cơ quan, công sở, thông tin đại chúng… Nhưng để đạt được hiệu quả như mong muốn còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ sở y tế, điều kiện kinh tế, trình độ dân trí từng vùng, từng địa phương, từng đất nước. Các nghiên cứu khảo sát ban đầu về cấp cứu gãy xương ở cơ quan vận động góp phần đưa ra những thông tin quan trọng giúp cho việc dự phòng các tai nạn, tập trung nghiên cứu sâu về các biện pháp dự phòng, điều trị với những loại gãy xương hay xảy ra và bổ sung công tác cấp cứu ban đầu cho phù hợp.
Vừa qua nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Hữu Chiến cùng cộng sự Học viện Quân Y thực hiện nghiên cứu báo cáo đề tài “Khảo sát thực trạng cấp cứu ban đầu các bệnh nhân gãy xương ở cơ quan vận động trong 5 năm tại bệnh viện Quân Y 103”.
Đối tượng nghiên cứu là tất cả hồ sơ bệnh án (HSBA) của bệnh nhân ở mọi lứa tuổi, bị gãy xương ở cơ quan vận động, cấp cứu và điều trị lần đầu tiên tại bệnh viện Quân y 103 (BVQY 103), trong thời gian từ 01/1/2010 – 31/12/2014, lưu trữ tại phòng KHTH – BVQY 103.
Đây là nghiên cứu cắt ngang hồi cứu số liệu thứ cấp. Lựa chọn mẫu nghiên cứu, tiêu chí lựa chọn mẫu gồm các HSBA nghiên cứu được ghi chép rõ ràng, có đủ thông tin của các bệnh nhân mọi lứa tuổi bị gãy xương ở cơ quan vận động đơn thuần hoặc kết hợp với các tổn thương khác, đến cấp cứu và điều trị tại BVQY 103 trong 5 năm (từ 01/1/2010 – 31/12/2014).
Tiêu chuẩn loại trừ: HSBA không cung cấp đầy đủ các thông tin nghiên cứu. Bệnh nhân nhập viện điều trị lại, gãy xương bệnh lý. Bệnh nhân chấn thương sọ não, chấn thương cột sống hoặc chỉ gãy xương chậu đơn thuần. Bệnh nhân chấn thương gãy xương đã tử vong trước khi đến bệnh viện.
Bác sĩ Nguyễn Hữu Chiến báo cáo, phân tích thực trạng cấp cứu ban đầu gãy xương ở cơ quan vận động tại các khu vực: Việc sơ cấp cứu kịp thời vô cùng quan trọng trong chương trình phòng chống chấn thương và tai nạn thương tích. Các nghiên cứu đều đã chỉ ra rằng nếu các trường hợp tai nạn thương tích được sơ cấp cứu kịp thời và hiệu quả có thể giảm mức độ trầm trọng và tử vong do thương tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân được cấp cứu tại khu vực nông thôn cao nhất: cấp cứu tại chỗ (89,6%), tại y tế cơ sở (57,7%) và PKCC (60%). Khu vực thành thị: tại chỗ (37,3%), y tế cơ sở (34,4%), PKCC (37,3%). Khu vực miền núi: thấp nhất tại chỗ (3,1%), y tế cơ sở (7,9%), PKCC (2,7%) (với p<0,05). Nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Khơi (2015) khảo sát 308 trường hợp TNGT điều trị tại bệnh viện Đa khoa Hậu Giang thấy đa số cư trú ở vùng nông thôn (72,7%).
Thời gian từ khi bị tai nạn gãy xương ở cơ quan vận động tới khi được cấp cứu ban đầu: Thời gian từ khi bị tai nạn cho đến khi được cấp cứu ban đầu, là khoảng thời gian rất quan trọng, nó góp phần cứu sống tính mạng, giảm thiểu các biến chứng xảy ra. Kết quả nghiên cứu ở cả 3 địa điểm sơ cứu, tỷ lệ bệnh nhân được cấp cứu dưới 5 phút tại chỗ (98,5%); y tế cơ sở (99,2%) và PKCC (94,9%). Tỷ lệ bệnh nhân được cấp cứu < 30 phút tại chỗ (0,9%); y tế cơ sở (0,7%) và PKCC (3,1%). Tỷ lệ bệnh nhân được cấp cứu > 30 phút tại chỗ (0,6%); y tế cơ sở (0,1%) và PKCC (2%) (với p>0,05). Về nguyên tắc xử trí ban đầu cần tiến hành ngay, nếu tỷ lệ thời gian sơ cứu cho nạn nhân < 5 phút là tốt. Tác giả cũng thấy 65,52% trường hợp do người dân xung quanh nơi tai nạn thực hiện sơ cứu (KTC: 95%: 42,73-83,62), phù hợp với điều tra nghiên cứu tại các địa phương của Bộ Y tế (gần 70% nạn nhân được cấp cứu ban đầu bởi người dân cộng đồng); tỷ lệ người đi cùng sơ cứu cho nạn nhân là 17,39%.

Các biện pháp sơ cấp cứu ban đầu gãy xương ở cơ quan vận động: Giảm đau, băng bó, cố định, tiêm KS+SAT, là các phương pháp cấp cứu cơ bản được áp dụng ngay sau khi gãy xương ở cơ quan vận động, đặc biệt là gãy hở. Các phương pháp này góp phần cứu sống bệnh nhân, giảm các biến chứng thứ phát gây ra và thuận lợi cho công tác điều trị thực thụ. Kết quả nghiên cứu của BS Chiến báo cáo: Tỷ lệ bệnh nhân được giảm đau tại chỗ (28,1%); y tế cơ sở (92,1%) và PKCC (87,9%), tỷ lệ giảm đau chung 83,1%. Tỷ lệ bệnh nhân được băng bó tại chỗ (62,3%); y tế cơ sở (50,3%) và PKCC (53,2%) bổ sung băng bó hoặc băng bó lại, tỷ lệ băng bó chung 53,4%. Tỷ lệ bệnh nhân được cố định tạm thời tại chỗ (63,3%); y tế cơ sở (92,8%) và PKCC (65,5%) bổ sung và cố định chắc chắn tỷ lệ cố định chung 72,2%. Tỷ lệ sử dụng KS và SAT, tại chỗ tai nạn không sử dụng, y tế cơ sở là 20,7%, PKCC là 18,8%, tỷ lệ chung 17,4%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01.
Đánh giá việc sử dụng đồng thời nhiều phương pháp cấp cứu cùng lúc (Giảm đau, băng bó, cố định, KS + SAT): tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng biện pháp giảm đau tại chỗ cao nhất tại cơ sở y tế 92,1%. Tỷ lệ bệnh nhân được băng bó cao nhất tại chỗ 62,3%. Tỷ lệ bệnh nhân được cố định cao nhất tại PKCC 65,5%.
Tại chỗ tai nạn dùng 1 phương pháp cấp cứu 53,1%; dùng 2 phương pháp 40%; dùng 3 phương pháp 6,9% và không có trường hợp nào dùng cả 4 phương pháp. Tại y tế cơ sở dùng 1 phương pháp 6,7%; dùng 2 phương pháp 50,1%; dùng 3 phương pháp 23,7% và dùng cả 4 phương pháp 19,5%. Tại PKCC dùng 1 phương pháp 10,6%; dùng 2 phương pháp 51,7%; dùng 3 phương pháp 18,7% và dùng cả 4 phương pháp 13,8%.
Hữu Lai