
Ở Việt Nam, theo điều tra dịch tễ về rối loạn trầm cảm trên toàn quốc, có khoảng 3,2-5,6% dân số mắc bệnh này. Việc điều trị trầm cảm đòi hỏi tốn rất nhiều thời gian, kết hợp sử dụng các liệu pháp khác nhau như: liệu pháp tâm lý, liệu pháp hóa dược, liệu pháp sốc điện. Trong đó liệu pháp hóa dược vẫn được coi là liệu pháp điều trị chính. Trên thực tiễn lâm sàng, các thuốc chống trầm cảm với nhiều cơ chế cho hiệu quả cao trong điều trị nhưng cũng có nhiều tác dụng không mong muốn xảy ra do cách lựa chọn thuốc sử dụng, thuốc sử dụng với liều cao và thời gian dùng thuốc chưa phù hợp. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá tổng quát chung về những tác dụng không mong muốn của thuốc chống trầm cảm đối với các bệnh nhân trầm cảm đang được điều trị bằng các liệu pháp hóa dược khác nhau.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Tuấn cùng cộng sự trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đánh giá tính phù hợp trong sử dụng thuốc chống trầm cảm ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai”.
Đối tượng nghiên cứu là 65 bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn trầm cảm theo tiêu chuẩn ICD 10 điều trị tại Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai từ 02/2014 – 07/2014 thỏa mãn các tiêu chuẩn loại trừ sau: bệnh nhân chuyển khoa khác trong quá trình điều trị, bệnh nhân không tuân thủ điều trị, bệnh nhân có tổn thương thực thể tại não.
Thiết kế nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang. Các công cụ nghiên cứu bao gồm: Tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10; bệnh án nghiên cứu (theo một mẫu bệnh án thống nhất); bộ câu hỏi phỏng vấn thu thập thông tin được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10. Trong suốt quá trình điều trị: ghi nhận các biến cố bất lợi có thể gặp phải trên bệnh nhân. Nếu lựa chọn sử dụng thuốc ban đầu, thay đổi thuốc sử dụng, liều sử dụng thuốc, thời điểm dùng thuốc phù hợp tuân theo khuyến cáo trong hướng dẫn điều trị của hiệp hội trầm cảm Hoa Kỳ (2009) và hướng dẫn sử dụng thuốc, ghi nhận là “Phù hợp”. Các trường hợp còn lại ghi nhận là “Không phù hợp”.
Bác sĩ Nguyễn Văn Tuấn phân tích báo cáo, bệnh nhân cao tuổi nhất là 70 tuổi, thấp tuổi nhất là 12 tuổi, tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 42,02 + 16,48 tuổi. Số lượng bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ cao hơn so với số lượng bệnh nhân nam, tỷ lệ nữ/nam là 40/25 + 1,6/1. Bệnh nhân có người nhà (quan hệ huyết thống 3 đời) mắc trầm cảm, chiếm tỷ lệ 6,15%, còn đại đa số các bệnh nhân không có ai trong gia đình mắc trầm cảm (93,85%). Trong 65 bệnh nhân nghiên cứu, có 20 bệnh nhân (chiếm 30,77%) có sử dụng rượu, 17 bệnh nhân (chiếm 26,15%) có sử dụng thuốc lá và 2 bệnh nhân (3,08%) có sử dụng chất gây nghiện.
Bác sĩ Tuấn cho biết, việc lựa chọn thuốc chống trầm cảm trên bệnh nhân khi nhập viện phụ thuộc rất nhiều yếu tố như độ tuổi, tình trạng bệnh, đáp ứng với thuốc điều trị trước đó, các bệnh lý mắc kèm, cân nhắc tác dụng không mong muốn có thể gặp. Điều này đòi hỏi kiến thức, cũng như kinh nghiệm lâm sàng của người thầy thuốc.

Khi thay đổi thuốc phải chú ý thời gian bán thải của thuốc đã dùng trước đó để tính toán thời gian thải trừ thuốc, tránh chồng liều làm tăng nồng độ và độc tính của thuốc. Với nhóm bệnh nhân nghiên cứu, sự thay đổi thuốc được thực hiện vào ngày tiếp theo sau khi dừng thuốc đầu tiên trong đợt điều trị. Với 4 bệnh nhân chuyển sang thuốc trầm cảm khác, có 2 bệnh nhân chuyển từ thuốc ban đầu là mirtazapin (T1/2 là 30h), 1 bệnh nhân chuyển từ sertralin (T1/2 là 25h), 1 bệnh nhân chuyển từ fluvoxamin (T1/2 là 15h). Như vậy việc sử dụng ngay thuốc thay thế sau khi đổi thuốc có thể dẫn đến chồng liều, làm tăng nồng độ và độc tính của thuốc sử dụng.
Mỗi thuốc chống trầm cảm cho tác dụng khác nhau với mức liều khác nhau trên mỗi bệnh nhân. Việc lựa chọn thuốc theo chỉ định phù hợp với mức liều phù hợp là rất cần thiết. Đôi khi cần chuẩn độ để tìm được liều phù hợp trên mỗi bệnh nhân. Hai thuốc được sử dụng nhiều nhất là sertralin và mirtazapin đều có mức liều sử dụng phù hợp với khuyến cáo đưa ra. Amitryptylin được sử dụng với mức liều khởi đầu thấp do nhiều tác dụng không mong muốn, hoặc do sử dụng kết hợp với thuốc khác. Trong 65 bệnh nhân nghiên cứu có 64 bệnh nhân (98,46%) được kê đơn với mức liều phù hợp khi sử dụng. Có duy nhất 1 bệnh nhân (1,54%) sử dụng paroxetin được kê đơn với mức liều sử dụng không phù hợp, cao hơn mức liều được khuyến cáo. Bệnh nhân này mắc rối loạn trầm cảm nặng, có ý tưởng hành vi tự sát, trước đó có đáp ứng kém với fluvoxamin, nên bác sĩ đã kê đơn với mức liều cao hơn theo kinh nghiệm lâm sàng.
Trong 65 bệnh nhân nghiên cứu có 64 bệnh nhân (98,46%) được kê đơn sử dụng thuốc với thời gian sử dụng phù hợp. Có duy nhất 1 bệnh nhân (1,54%) sử dụng paroxetin được kê đơn với thời gian sử dụng không phù hợp. Do đặc tính sử dụng thuốc tại viện, thời gian phát thuốc chính vào 8h tối trên các bệnh nhân nội trú, nên bác sĩ có thói quen kê đơn thuốc chống trầm cảm vào buổi tối. Điều này phù hợp với hầu hết các thuốc trầm cảm khác. Với paroxetin theo hướng dẫn sử dụng nên được uống vào mỗi buổi sáng để cho tác dụng tốt nhất, tuy nhiên lại được kê sử dụng vào buổi tối trên bệnh nhân nên đã dẫn đến sự không phù hợp trong cách dùng thuốc trên bệnh nhân.
Mặc dù có sự không phù hợp về liều và thời gian dùng thuốc trên bệnh nhân sử dụng paroxetin, nhưng theo dõi trong suốt quá trình điều trị cho thấy, không có biến cố bất lợi nào nghiêm trọng cần phải xử trí trên bệnh nhân.
Bác sĩ Tuấn có kết luận, lựa chọn thuốc ban đầu là phù hợp trên 85,29% bệnh nhân mới mắc trầm cảm và 80,65% bệnh nhân rối loạn trầm cảm. Việc thay đổi thuốc điều trị phù hợp trên 83,08% bệnh nhân. Bệnh nhân được kê đơn với mức liều vào thời điểm dùng thuốc phù hợp là 98,46%.
Ngô Thanh