[Đăng ngày: 15/02/2019]
Viêm tụy cấp là một quá trình tổn thương cấp tính của tụy, bệnh thường xảy ra đột ngột với những triệu chứng lâm sàng đa dạng, phức tạp từ VTC nhẹ thể phù đến VTC nặng thể loại tử với các biến chứng suy đa tạng nặng nề tỷ lệ tử vong cao. 

Ở Mỹ hàng năm có khoảng 250.000 trường hợp nhập viện vì VTC. Ở Việt Nam trong những năm gần đây qua một số nghiên cứu và thống kê cho thấy viêm tụy cấp ngày càng gia tăng.

Ngày nay, với sự phát triển khoa học kỹ thuật ứng dụng trong y học (siêu âm, CT, chụp cộng hưởng từ, máy xét nghiệm sinh hóa,  huyết học, …) đã giúp cho việc chẩn đoán bệnh VTC được dễ dàng hơn, đánh giá mức độ nặng của bệnh tốt hơn, và biết rõ nguyên nhân gây ra bệnh để phục vụ cho công tác tiên lượng và điều trị tốt hơn. Đồng thời với sự phát triển của khoa học kỹ thuật ứng dụng trong y học, sự hiểu biết về cơ chế bệnh sinh của VTC đã rõ ràng tụy bị tổn thương do nhiều cơ chế  và hậu quả giải phóng ra các cytokine như IL-1, TNF-a, IL-6, IL-8…, tăng phản ứng tế bào bạch cầu và các tế bào nội mạc mạch máu và tăng ALOB. Do đó điều trị VTC cũng có nhiều tiến bộ như điều trị nguyên nhân VTC (nhiễm khuẩn, do sỏi, rối loạn chuyển hóa mỡ…) và biện pháp can thiệp điều trị nguyên nhân như nội soi ngược dòng lấy sỏi, các biện pháp điều trị hỗ trợ, các biện pháp về hồi sức: bù dịch trong 48 giờ đầu, CVVH, PEX, lọc máu ngắt quãng…

Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Huy Ngọc cùng cộng sự bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ thực hiện nghiên cứu thuần tập mô tả, can thiệp báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm tụy cấp tăng triglyceride máu tại Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ”.

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán VTC tăng TG tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ từ tháng 09/2015 đến tháng 09/2016. 

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân vào nghiên cứu: Chẩn đoán VTC: Theo khuyến cáo của hội nghị Tiêu hóa thế giới năm 2006. Tiêu chuẩn là một triệu chứng lâm sàng kèm với ít nhất một trong hai triệu chứng cận lâm sàng (Triệu chứng lâm sàng: cơn đau bụng điển hình; Amylase máu tăng cao > 3 lần so với giá trị bình thường; Chụp cắt lớp vi tính: Chẩn đoán xác định viêm tụy cấp). Xét nghiệm TG > 5,7mmol/l (500mg/dl)-TG được xét nghiệm một lần khi vào viện và xét nghiệm lại sau ăn 12h.

Viêm tụy cấp được chẩn đoán loại trừ do các nguyên nhân khác: sỏi mật, giun chui ống mật, do chấn thương… Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân bị VTC TG < 5,7mmol/l. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thuần tập mô tả, can thiệp. Các bước tiến hành nghiên cứu: chia bệnh nhân ra làm 2 nhóm: Nhóm 1: nhóm VTC có mức TG từ 5,7-11,3mmol/l (500mg/dl); Nhóm 2: nhóm VTC có mức TG > 11,3mmol/l (1000mg/dl). Sang phần điều trị chia nhóm 2 thành 2 nhóm: Nhóm không thay huyết tương (ký hiệu: KoPEX) và nhóm (ký hiệu: PEX) có thay huyết tương. Bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị theo phác đồ VTC tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ.

Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu, BS Nguyễn Huy Ngọc cho biết trong số 37 bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có 32 bệnh nhân nam chiếm (86,4%) và 5 bệnh nhân nữ chiếm 13,6%. Kết quả này tương tự nghiên cứu Nguyễn Quang Hải: 70,08%, Bùi Văn Khích: 73,7%; Nguyễn Đắc Ca: 75%; Hà Mạnh Hùng: 74,1%. Nguyên nhân có sự khác biệt này là do nam giới uống rượu nhiều. Đối tượng nghiên cứu 67,7% liên quan đến rượu. Kết quả này phù hợp với y văn cho rằng VTC do rượu thường gặp ở nam, còn VTC do sỏi lại gặp ở nữ nhiều hơn nam. Một số nghiên cứu khác có kết quả thấp hơn chủ yếu là ở môi trường ngoại khoa: Suvat Vôngphachăn: 34,9%; Lê Mạnh cường:41%; Nguyễn Quang Nghĩa 1995: 57%; Tôn Thất Bách: 63,9%. Lý do phần lớn bệnh nhân trong các nghiên cứu này có nguyên nhân là sỏi mật, sỏi gan, là những nguyên nhân gặp nhiều ở nữ, còn trong nghiên cứu không có bệnh nhân bị sỏi mật.

Đặc điểm về tuổi, tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 40,4 + 9,90, tuổi cao nhất 65, thấp nhất 22. Kết quả này tương tự nghiên cứu Hoàng Thị Huyền: 41,4 + 12,5, Douglas. Nhưng thấp hơn Nguyễn Quang Hải: 49 + 12,6 và Hà Mạnh Hùng: 50,9 + 13,8. Phân bố chủ yếu gặp ở nhóm tuổi từ 31 đến 50 tuổi, chiếm 64,3%, đây là nhóm tuổi đang trong độ tuổi lao động, hoạt động sôi động, thường có thói quen uống nhiều rượu. Kết quả của nghiên cứu có tuổi trung bình thấp hơn các nghiên cứu khác có thể do nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân VTC tăng TG máu và do thói quen uống nhiều rượu, ăn nhậu không điều độ tăng lên ở nhóm tuổi trẻ hơn.

Đặc điểm về tiền sử,  BS Ngọc cho biết tiền sử uống rượu chiếm 67,7%. Mặc dù cơ chế chưa được giải thích rõ ràng nhưng theo Nguyễn Quang Nghĩa có thể do tình trạng nhiễm độc cấp tính làm tăng trương lực cơ Oddi. Kết quả này tương tự với nghiên cứu Nguyễn Quang Hải: 62,5%; Hà Mạnh Hùng: 63%. Tuy nhiên kết quả này cao hơn nghiên cứu Nguyễn Đắc Ca: 50%; Bùi Văn Khích: 28,9%. Số bệnh nhân biết tiền sử rối loạn lipid máu của bản thân nhưng không điều trị hoặc điều trị không đúng cách là 10 bệnh nhân có tiền sử rối loạn lipid máu chiếm 27%, 12 bệnh nhân đái tháo đường và 9 bệnh nhân có tiền sử VTC tăng TG. Một số bệnh nhân bị rối loạn lipid máu nhưng không biết là 4 bệnh nhân có tiền sử VTC. 5 bệnh nhân không có tiền sử gì chiếm tỷ lệ rất ít chiếm 21,6%. Như vậy, số bệnh nhân có tiền sử tăng TG trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn các tác giả Đào Xuân Cơ: 9%; Vũ Đức Định: 15%; Hoàng Thị Huyền: 7,1%; Vũ Công Thắng: 13,3%; Athyros: 6,9% và tỷ lệ bị VTC không rõ nguyên nhân thấp hơn Nguyễn Quang Nghĩa: 63,55% và Nguyễn THị Hằng: 60%. Có thể do sự phát triển của nền y học cùng với các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh nên ít bỏ sót các nguyên nhân.

Bác sĩ Huy Ngọc có kết luận, về đặc điểm lâm sàng, tiền sử rối loạn lipid máu: 10 (27,0%) bệnh nhân, nghiện rượu: 25 (67,7%) bệnh nhân, bệnh đái tháo đường không kiểm soát: 12 (32,4%) bệnh nhân. Khi lấy mẫu máu đục như sữa ở lớp trên bề mặt 18/37 (48,6%).

Mức độ nặng theo các thang điểm VTC tăng TG chủ yếu là VTC nhẹ. Thang điểm SOFA: 3,4 + 3,14. Nhóm PEX không liên quan đến rượu điểm SOFA: 1,8 + 1,73.
Phúc Nguyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 316

Số lượt truy cập: 9352388

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang