[Đăng ngày: 24/01/2019]
Ung thư trực tràng là một trong những bệnh ung thư phổ biến trên thế giới và gặp nhiều hơn ở các nước phát triển. 

Theo thống kê năm 2012 của Globocan, ung thư đại trực tràng đứng thứ ba về tỷ lệ mắc (10%) và thứ tư về tỷ lệ tử vong (8,5%) do ung thư. Ở Việt Nam, ung thư đại trực tràng nằm trong số 5 bệnh ung thư thường gặp, có xu hướng gia tăng, theo ghi nhận ung thư đại trực tràng tỷ lệ mắc thuần theo tuổi là 7,5/100.000.

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người đã đạt được nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị ung thư đại trực tràng. Tuy vậy, ung thư đại trực tràng là bệnh lý thường tiến triển chậm và các triệu chứng ít rõ ràng nên khiến bệnh nhân vào viện muộn, hay được chẩn đoán muộn, ảnh hưởng rất lớn đến công tác điều trị, theo dõi cũng như tiên lượng của bệnh nhân. Nồng độ CEA có thể được đo trong huyết thanh và có thể hữu ích như một dấu hiệu chỉ điểm ung thư. Bởi vì nồng độ của CEA thấp trong giai đoạn sớm của ung thư biểu mô đại trực tràng nên đo nồng độ CEA là một phương thức không phù hợp với việc sàng lọc ung thư. Nồng độ CEA trước phẫu thuật cao là một dấu hiệu tiên lượng xấu và tương quan với sự giảm thời gian sống còn sau phẫu thuật cắt bỏ ung thư đại trực tràng. Nồng độ CEA sau phẫu thuật không trở về bình thường có ý nghĩa trong phẫu thuật không giải quyết triệt căn những bệnh hệ thống còn tiềm ẩn. Thường xuyên theo dõi nồng độ CEA sau phẫu thuật có thể cho phép xác định liệu bệnh nhân còn di căn không sau phẫu thuật cắt bỏ, hoặc sau điều trị. Việc theo dõi nồng độ CEA không những phản ánh tốt đẹp đáp ứng điều trị mà còn có thể xác định bệnh đã thực sự ổn định hay chưa sau hóa xạ trị kết hợp, góp phần quan trọng trong tiên lượng bệnh.

Trong hai năm 2016-2017, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Ngọc Hà cùng cộng sự trường Đại học Y Dược Thái Nguyên; Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đánh giá sự thay đổi nồng độ CEA ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng trước và sau điều trị” nhằm mục tiêu: Phân tích sự thay đổi nồng độ CEA huyết thanh ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng trước và sau điều trị tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên.

Theo bác sĩ Hà, đối tượng nghiên cứu là 54 bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng, tuổi từ 27 đến 76 tuổi. Những bệnh nhân này được chẩn đoán xác định bằng kết quả giải phẫu bệnh, được xếp loại TNM và giai đoạn lâm sàng theo AJCC, có hồ sơ lưu trữ đầy đủ, được điều trị phẫu thuật kết hợp hóa trị. Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân bỏ dở điều trị, không có hồ sơ lưu trữ đầy đủ.

Về thu thập mẫu huyết thanh từ các bệnh nhân nghiên cứu tại các thời điểm trước phẫu thuật, sau phẫu thuật 4-6 tuần, trước hóa trị đợt 1 và sau hóa trị đợt 6. Tiến hành làm xét nghiệm định lượng CEA huyết thanh. Xét nghiệm được tiến hành trên hệ thống máy xét nghiệm miễn dịch tự động IMMULITE 2000Xpi. Hóa chất sử dụng là bộ KIT CEA của hãng Siemen.

Bác sĩ Ngọc Hà phân tích báo cáo, trong nghiên cứu nhóm tuổi thường gặp là trên 50, đặc biệt nhóm 60-70 tuổi chiếm 35,25%. Bệnh nhân có tuổi thấp nhất là 27, bệnh nhân có tuổi cao nhất là 76. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 60,4. CEA (Carcinoembryonic Antigen) là một glycoprotein phức tạp, bình thường được sản xuất bởi tế bào niêm mạc dạ dày, ruột của thai nhi. Sau khi sinh, CEA biến mất và không còn phát hiện trong huyết thanh nữa. Tuy nhiên, CEA có thể tăng trong nhiều bệnh lý như các bệnh ác tính, đặc biệt được sản xuất 90% từ ung thư biểu mô đại trực tràng và là yếu tố góp phần vào các đặc điểm của một khối u ác tính. CEA hiện đang là một chất chỉ điểm ung thư được dùng rộng rãi ở nước ta và đã cho thấy nhiều hữu ích trong quản lý bệnh nhân ung thư đại trực tràng. Tuy chúng ít có giá trị để chẩn đoán ung thư vì độ nhạy và độ đặc hiệu thấp nhưng lại chứng tỏ được vai trò trong đánh giá hiệu quả điều trị và theo dõi tình trạng tái phát hay di căn.

Bác sĩ Ngọc Hà có kết luận cho nghiên cứu là, có 38,9% các trường hợp ung thư đại trực tràng có nồng độ CEA trước phẫu thuật cao hơn bình thường. Nồng độ trung bình của CEA trước phẫu thuật là 28,4 + 64,3ng/ml cao hơn nồng độ CEA sau phẫu thuật 8,3 + 9,4ng/ml (p<0,05). Nồng độ CEA ở bệnh nhân giai đoạn muộn và di căn xa cao hơn có ý nghĩa ở bệnh nhân giai đoạn sớm và không di căn (p<0,05). Theo dõi quá trình điều trị cho thấy những bệnh nhân kém hoặc không đáp ứng điều trị thì nồng độ CEA tăng (p<0,05).
Ngô Thanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 328

Số lượt truy cập: 9352487

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang