[Đăng ngày: 12/12/2015]
    Tại Hội thảo phòng chống ung thư TP. Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức vào tháng 12/2015, BS. Jasmine Thanh Xuân cùng các cộng sự báo cáo nghiên cứu “Giá trị chẩn đoán của phương pháp S-Detect trong bệnh lý u tuyến vú”.
    Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4-6/2015 tại khoa siêu âm Trung tâm Y khoa Medic TP. Hồ Chí Minh, có 111 đối tượng tự nguyện và đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng nghiên cứu gồm siêu âm vú thường quy được thực hiện bởi hai bác sĩ siêu âm, trong đó có một người có trên 15 năm kinh nghiệm, ghi nhận các dữ liệu về vị trí, kích thước, hình dạng, đường bờ, độ hồi âm, trục của khối u, vôi hóa, phân bố mạch máu, biến đổi mô lân cận và kết luận chẩn đoán theo phân độ BI-RADS. Tiếp theo sử dụng phương pháp S-Detect tự động ghi nhận các dữ liệu về vị trí, kiến thức, hình dạng (shape), bờ (margin), kiểu hình siêu âm (echo pattern), thương tổn quanh u (lesion boundary), trục khối (orientation), đặc điểm hồi âm sau khối u (posterior acoustic features) và kết quả xếp loại sang thương (possibly Benign/Malignant). Sau đó sinh thiết các u vú bằng kim nhỏ (FNAC) hoặc kim lõi (core biopsy) hoặc sinh thiết trọn (exicional biopsy).
    Kết quả nghiên cứu cho thấy bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 32, lớn tuổi nhất là 76, tuổi từ 50 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ 40,5%, dưới 50 tuổi chiếm tỷ lệ 59,5%. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã lập gia đình là 86,5% cao hơn 6 lần so với nhóm độc thân. Có hơn 69% đối tượng nghiên cứu sờ thấy u tại vú trên lâm sàng, tiết dịch núm vú chiếm tỷ lệ 3,6%; đau vú 9% và loét núm vú tỷ lệ là 0,9%. Vị trí khối u ở vú trái có tỷ lệ gần 57% cao hơn so với vị trí khối u ở vú phải. Trong 111 trường hợp kết quả mô bệnh học cho thấy có 50 trường hợp lành tính và 61 trường hợp ác tính; đường kính trung bình chung của cả hai loại u lành và ác là 1,8cm đối với đường kính ngang và 1,1cm đối với đường kính dọc.
    Đối với các kỹ thuật sinh thiết khối u vú, FNAC chiếm tỷ lệ ưu thế (80,2%), đây là kỹ thuật có thao tác nhanh, thực hiện dễ dàng dưới hướng dẫn của siêu âm vú, giá thành rẻ và có kết quả trong ngày. Số trường hợp không tương thích giữa kết quả FNAC và hình ảnh học siêu âm vú đã được tiến hành làm sinh thiết lõi hoặc sinh thiết trọn.
    Trong số 61 trường hợp ác tính, tuổi trung bình là 51, trong đó có 6 trường hợp dưới 40 tuổi. Tỷ lệ đã lập gia đình chiếm 90,2%; đa số (80,3%) bệnh nhân đi khám vì tự sờ thấy u vú, còn các triệu chứng đau vú, tiết dịch núm vú ít hơn. Kết quả mô bệnh học có 60 trường hợp là carcinome và 01 trường hợp là sarcome vú. Hình ảnh siêu âm thường quy không có sự khác biệt giữa 2 loại ung thư vú này. Đường kính trung bình khối u là 1,8 x 1,1cm; trong đó chỉ có 4 trường hợp u nhỏ hơn 1cm, một số người bệnh đã có khối u lớn hơn 3cm.
    Kết quả chẩn đoán của S-Detect so với mô bệnh học trên 111 trường hợp nghiên cứu, khả năng phát hiện và ghi ngờ ác tính của S-Detect là 57/61 trường hợp ác tính, độ nhạy có tỷ lệ là 93,4%. Có 4 trường hợp là ung thư vú nhưng S-Detect báo kết quả lành tính; đây là những tổn thương có kích thước khối u nhỏ hơn 1cm, bờ khối u khá đều, chưa xâm lấn hay co rút mô xung quanh, trong đó một trường hợp ung thư vú nguyên phát được phát hiện sớm; 3 trường hợp là sang thương ung thư vệ tinh nhỏ cạnh khối u ung thư vú kích thước lớn.
    Đối với 50 trường hợp u vú lành tính, S-Detect phát hiện và chẩn đoán khả năng lành tính 31 trường hợp (độ đặc hiệu là 62%). Theo tác giả nghiên cứu, các loại u lành do thay đổi sợi bọc, viêm lao mạn, hoại tử mỡ, nang viêm... có phản âm kém, bờ không đều, trục khuynh hướng dọc, một số có dấu halo (+) xung quanh. Các trường hợp này S-Detect cho kết quả là khả năng ác tính, sự nhầm lẫn này gợi ý cần phải sinh thiết u để chẩn đoán xác định, tránh bỏ sót các trường hợp u ác tính mang dáng vẻ lành tính.
    Qua kết quả nghiên cứu, BS. Jasmine Thanh Xuân nhận thấy chẩn đoán u vú khả năng lành tính giữa hai kỹ thuật S-Detect và siêu âm vú thường quy phù hợp ở 31 trường hợp; Đối với chẩn đoán u vú khả năng ác tính giữa hai kỹ thuật phù hợp ở 68 trường hợp. Mức độ phù hợp trong chẩn đoán giữa 2 kỹ thuật cho kết quả tốt với hệ số Kappa = 0,76.
    Chúng ta biết rằng phát hiện sớm ung thư vú là mục tiêu hàng đầu của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh, trong đó siêu âm B-mode được đánh giá rất tốt, tuy nhiên kỹ thuật này phụ thuộc vào kinh nghiệm của người bác sĩ thực hiện siêu âm vú. Xu hướng sử dụng Computer Aided Diagnosis (CAD), máy tính trợ giúp chẩn đoán hiện đang phát triển mạnh trong ngành chẩn đoán hình ảnh thế giới, cung cấp một góc nhìn độc lập thứ hai trong tiếp cận hình ảnh chẩn đoán trên lâm sàng.
    Hãng Samsung Korea đã phát triển phần mềm S-Detect (Smart – Detect) tích hợp trên máy RS80A như một CAD trong siêu âm tuyến vú với mục đích hỗ trợ các bác sĩ bước đầu siêu âm tuyến vú có nhận định nhanh và chính xác. Tác giả nghiên cứu đã đưa ra kết quả phần mềm S-Detect có độ nhạy và độ tương thích cao so với kỹ thuật siêu âm thường quy, hữu ích trong thực hành siêu âm vú, đặc biệt đối với các bác sĩ siêu âm ít kinh nghiệm.
    Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 96

Số lượt truy cập: 9376956

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang