
Tại Hội thảo phòng chống ung thư thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức vào tháng 12/2015, Dược sỹ Lê Thị Xuân Trang, Đại học Dược thành phố Hồ Chí Minh đã báo cáo đề tài nghiên cứu “Kiểm soát hiệu quả giảm đau từ trên bệnh nhân ung thư trong tuần đầu tiên điều trị tại khoa chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh”.
Tham gia nghiên cứu có 210 bệnh nhân, trong đó nam giới chiếm tỷ lệ 62%, tuổi dưới 60 chiếm tỷ lệ 49%, độ tuổi trung bình 61,3. Đối tượng nghiên cứu ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ 64%, các tỉnh, thành phố khác 36%, về nghề nghiệp người , hưu trí chiếm hơn ½, cán bộ viên chức chiếm gần ¼, làm nông chiếm 1/10, nội trợ, buôn bán chiếm tỷ lệ 1/20. Tỷ lệ bệnh nhân phân bố theo khoa xạ chiếm tỷ lệ nhiều nhất 35%. Bệnh nhân điều trị ngoại trú chiếm tỷ lệ 68%. Đối với phân loại ung thư đầu mặt cổ, ung thư đường tiêu hóa và ung thư đường hô hấp chiếm tỷ lệ đa số lần lượt là 31%, 23% và 15,2%. Tỷ lệ bệnh nhân đã có di căn chiếm 62,4%, tỷ lệ bệnh nhân có suy giảm nhận thức là 11,4%, 40,2% bệnh nhân có dấu hiệu trầm cảm. Kiểu đau phổ biến của đối tượng nghiên cứu là kiểu đau cảm thụ với tỷ lệ gần 75%, đau thần kinh chiếm tỷ lệ 3,3% và đau hỗn hợp chiếm tỷ lệ gần ¼. Mức độ đau trung bình ban đầu là 6,17, trong đó có 10,5% đau nhẹ, 42% đau trung bình và 47,6% đau nặng, vị trí đau ở đầu cổ chiếm 40%, đau đột xuất chiếm 15%.
Theo tác giả nghiên cứu so sánh mức đau trước và sau điều trị 1 tuần, cho thấy giảm từ 6,17 xuống còn 3,36 (p<0,001). Mức chênh lệch đau trung bình trước và sau điều trị một tuần là âm 2,43. Sau 7 ngày điều trị, 9,5% đối tượng nghiên cứu có đáp ứng hoàn toàn, 67,1% đối tượng nghiên cứu đáp ứng một phần, 17,1% đối tượng nghiên cứu không thay đổi; 6,2% đối tượng nghiên cứu có đau tiến triển thêm. Thời gian nghiên cứu sử dụng nhiều loại thuốc giảm đau, qua kiểm soát cho thấy nhóm thuốc giảm đau bậc 2 sử dụng nhiều cho mức đau trung bình là tramadol kết hợp với paracetamol. Nhóm thuốc giảm đau bậc 3 cho mức đau nặng là morphin, về liều morphin ban đầu trung bình là 54,42 mg/ngày, liều thấp nhất là 23mg và cao nhất là 360mg. Sau một tuần điều trị liều morphin trung bình là 58,85mg/ngày, liều thấp nhất là 12mg và liều cao nhất là 360mg.
Kết quả hồi quy đa biến các yếu tố liên quan đến mức đau ban đầu, mức chênh lệch đau trước và sau điều trị, chất lượng sống và giai đoạn bệnh (di căn).
Theo tác giả nghiên cứu, trong thời gian đến cần có thêm nghiên cứu sâu hơn tập trung trên đối tượng bệnh nhân ung thư và cải thiện đau cho những bệnh nhân ung thư có tiên lượng xấu.
Thực tế cho thấy, đối với người bệnh ung thư, đau là triệu chứng phổ biến và đáng sợ nhất, triệu chứng đau xuất hiện ở tất cả các giai đoạn của bệnh. Tại thời điểm chẩn đoán bệnh ung thư trung bình có khoảng 45% người có triệu chứng đau, tỷ lệ này tăng lên 76% ở những giai đoạn tiến xa của ung thư. Đau là một sinh lý phức tạp và là trải nghiệm cảm xúc, không đơn giải chỉ là một cảm giác. Đau mãn tính làm trầm trọng thêm trầm cảm, lo âu, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, suy kiệt, gây trở ngại với các hoạt động xã hội, ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh. Chăm sóc giảm nhẹ đang trở thành xu hướng mới trong điều trị nhằm giảm bớt những đau đớn, chịu đựng, cải thiện chất lượng sống người bệnh. Tính chất và biểu hiện đau trong ung thư luôn thay đổi, vì vậy việc theo dõi điều trị đau ung thư là rất quan trọng, giúp đem lại kết quả điều trị tốt và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh ung thư.
Hữu Cao