
Ngày 25/5/2016, Hội đồng khoa học Sở Y tế đã họp bước nghiệm thu đề tài đánh giá “Đánh giá hiệu quả điều trị bằng thuốc kết hợp với liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho bệnh nhân tâm thần phân liệt bị xích, cách ly tại nhà, lang thang trong cộng đồng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa”. Đề tài do ThS Đặng Duy Thanh – Bệnh viện chuyên khoa Tâm thần Khánh Hòa làm chủ nhiệm đề tài.
Theo ThS Thanh, đây là nghiên cứu can thiệp với 2 mục tiêu là (1) Đánh giá hiệu quả điều trị bằng thuốc kết hợp với liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho bệnh nhân tâm thần phân liệt bị xích, cách ly tại nhà, lang thang trong cộng đồng; (2) Đánh giá sự thay đổi về thái độ, nhận thức, hành vi của gia đình bệnh nhân và xã hội.
Tổng hợp số liệu từ xã phường có 690 bệnh nhân tâm thần, tính đến ngày 02/12/2014, nhóm nghiên cứu đã khám phân loại 143 bệnh nhân: 100 bệnh nhân nam và 43 bệnh nhân nữ. Trong đó 14 bệnh nhân ở Vạn Ninh, 50 bệnh nhân ở Ninh Hòa, 26 bệnh nhân ở Nha Trang, 17 bệnh nhân ở Diên Khánh , 20 bệnh nhân ở Cam Lâm, 15 bệnh nhân ở Cam Ranh và 01 bệnh nhân ở Khánh Vĩnh. Có 117 bệnh nhân được chẩn đoán là tâm thần phân liệt theo ICD-10, trong đó 106 gia đình đồng ý cho bệnh nhân tham gia nghiên cứu.
Sau bước xét nghiệm cận lâm sàng, sự đồng ý tham gia nghiên cứu của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, có tất cả 77 đối tượng nghiên cứu được chọn tham gia nghiên cứu, trong đó tỷ lệ nam giới gấp 3 lần so với nữ giới. Về thời gian mắc bệnh, người mắc ít nhất là một năm, nhiều nhất là 33 năm. Thời gian bị xích, cách ly, đi lang thang ít nhất là 2 tháng, lâu nhất là 30 năm. Đối với người chăm sóc chính cho bệnh nhân, có 47 (61,8%) bệnh nhân được chăm sóc bởi cha, mẹ hoặc con của họ; 20 (26,3%) bệnh nhân được chăm sóc bởi anh, chị, em ruột; 3 bệnh nhân (4,0%) được chăm sóc bởi bà con; 5 bệnh nhân (6,6%) được chăm sóc bởi vợ, chồng; 1 bệnh nhân (1,3%) được chăm sóc bởi cha nuôi.
Đối với tình trạng hôn nhân có 79,2% bệnh nhân còn độc thân, vì vậy phần lớn đối tượng nghiên cứu được chăm sóc bởi cha mẹ của họ. Trong tương lai dài hạn, khi cha mẹ họ mất đi rồi thì vấn đề nuôi dưỡng họ sẽ rất khó khăn vì họ không có vợ, chồng, con cái, ThS Thanh chia sẻ.
Trong 36 bệnh nhân bị xích/cách ly, có 31 bệnh nhân (86,1%) bị xích/cách ly được quyết định bởi gia đình; 1 bệnh nhân (2,8%) được quyết định bởi gia đình và cộng đồng; 4 bệnh nhân (11,1%) là do bệnh nhân tự cách ly không giao tiếp với bên ngoài.
Có 21 trường hợp (61,8%) lý do của việc xích/cách ly là do bệnh nhân có hành vi nguy hiểm với người khác, 3 trường hợp (8,8%) có hành vi tự làm hại bản thân, 21 trường hợp (61,8%) đập phá tài sản, 23 (67,7%) trường hợp hay sử dụng chất (rượu, bia, thuốc lá), 11 trường hợp (32,4%) đi lang thang, 2 trường hợp (5,9%) gây ra hậu quả vượt quá mức chịu đựng của gia đình, 4 trường hợp (11,8%) gia đình khó khăn về mặt tài chính, 6 trường hợp (17,7%) gia đình không có người chăm sóc, 1 trường hợp (2,9%) gia đình không nhớ lý do, 4 trường hợp (11,8%) lý do khác (sợ bị xe tông, sự di chuyển đồ đạc trong nhà, sợ đập phá đồ đạc của người khác, tránh nguy hiểm cho bệnh nhân). Như vậy, trong nghiên cứu này, phần lớn lý do của việc xích/cách ly là bệnh nhân có hành vi nguy hiểm với người khác, đập phá tài sản hoặc là hay sử dụng rượu bia, thuốc lá.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra có ba hình thức gia đình quản lý bệnh nhân: để bệnh nhân đi lang thang, xích xen kẽ đi lang thang và nặng hơn là xích/cách ly hoàn toàn. Có 41 trường hợp (53,2%) bệnh nhân đi lang thang, 15 trường hợp (19,5%) bệnh nhân đi lang thang xen kẽ với xích không liên tục và 21 trường hợp (27,3%) bệnh nhân bị quản lý bằng hình thức xích/cách ly.
Có bốn hình thức xích/cách ly bệnh nhân: buộc bằng dây xích, buộc bằng dây, nhốt và tự cách ly (không xích, không nhốt, chỉ sống một mình trong phòng hoặc một nơi nào đó trong vườn, không tiếp xúc với gia đình và xã hội). Theo kết quả, có 18 (50,0%) bệnh nhân bị buộc bằng dây xích, 2 (5,6%) bệnh nhân bị buộc bằng dây, 12 (33,3%) bệnh nhân bị nhốt và 4 (11,1%) bệnh nhân tự cách ly.
Có 26 bệnh nhân (72,2%) bị xích/cách ly liên tục, 10 bệnh nhân (27,8%) bị xích/cách ly không liên tục. Khi bị xích/cách ly như vậy, tất cả những hoạt động của bệnh nhân rất hạn chế và bị giới hạn trong một không gian hẹp, phần lớn không tới 10 m2
Về lý do gia đình không đưa bệnh nhân đến Bệnh viện điều trị, có 18 bệnh nhân (47,4%) do khó khăn về tài chính, 2 bệnh nhân (5,3%) do có tác dụng phụ của thuốc, 1 bệnh nhân (2,6%) do điều trị trước đó không hiệu quả, 24 trường hợp (63,2%) là do bệnh nhân từ chối, 11 trường hợp (29,0%) gia đình không rảnh đưa bệnh nhân đi, 1 trường hợp (2,6%) gia đình nghĩ rằng không cần phải điều trị.
Theo ThS Thanh, thang PANSS là thang đánh giá các hội chứng dương tính và âm tính của bệnh tâm thần phân liệt. Hội chứng dương tính bao gồm các triệu chứng như các hoang tưởng, các ảo giác, sự vô tổ chức trong tư duy, và các hành vi kỳ dị. Hội chứng âm tính được đặc trưng bởi các khiếm khuyết trong các chức năng nhận thức, cảm xúc và xã hội, bao gồm các triệu chứng cùn mòn cảm xúc, sự thu rút thụ động, sự giảm sút sự chú ý và ý chí.
Trong số các triệu chứng dương tính theo thang PANSS, các triệu chứng hoang tưởng chiếm 68,8%, sự tan rã các ý niệm chiếm 88,3%, hành vi ảo giác chiếm 75,3%, kích động chiếm 80,3%, tự cao chiếm 20,8%, đa nghi và ý tưởng bị ám hại chiếm 55,8%, sự thù ghét chiếm 61,0%. Như vậy, các triệu chứng dương tính phổ biến nhất là sự tan rã các ý niệm (sự vô tổ chức trong tư duy), hành vi kích động, ảo giác và hoang tưởng. Điều này cũng phù hợp với các mô tả các triệu chứng phổ biến trong tâm thần phân liệt của ICD-10.
Trong số các triệu chứng âm tính theo thang PANSS, các triệu chứng cảm xúc cùn mòn chiếm 90,9%, thu rút tình cảm chiếm 92,2%, quan hệ kém chiếm 93,5%, thu rút xã hội/thụ động vô cảm chiếm 94,8%, tư duy trừu tượng khó khăn chiếm 94,8%, mất sự tự phát và trôi chảy của lời nói chiếm 88,3% và tư duy định hình chiếm 62,3%. Theo đó, hầu hết các triệu chứng âm tính trong nhóm nghiên cứu này là rất nổi bật và chiếm ưu thế, hơn 90%; chỉ có triệu chứng tư duy định hình là thấp nhất và nhỏ hơn 90%.
Về thể bệnh theo ICD-10, kết quả nghiên cứu cho thấy thể bệnh phổ biến nhất là paranoid (41,6%) và thể di chứng (39,0%), theo sau là các thể không biệt định (7,8%), đơn thuần (6,5%), thanh xuân (2,6%), trầm cảm sau phân liệt (1,3%), khác (1,3%). Không có thể căng trương lực.
Về kết quả can thiệp, Hội đồng khoa học đã có những góp ý để chủ nhiệm đề tài hoàn thiện, theo kế hoạch đề tài sẽ được nghiệm thu từ Hội đồng khoa học cấp tỉnh trong thời gian đến.
Chúng ta biết rằng, các thuốc chống loạn thần vẫn là điều trị chính cho tâm thần phân liệt. Tuy nhiên, các thuốc an thần hiệu quả nhất trong việc làm giảm các triệu chứng loạn thần và có tác động ít lên các triệu chứng âm tính, sự suy giảm nhận thức hay chức năng. Thuốc đơn thuần không đủ để cải thiện các vấn đề suy giảm chức năng xã hội. Khoảng 30% bệnh nhân tâm thần phân liệt có các triệu chứng âm tính nặng và dai dẳng có khuynh hướng kháng với thuốc. Bên cạnh đó, các bệnh nhân tâm thần phân liệt được dùng đủ liều thuốc an thần vẫn có tỷ lệ tái phát cao. Hơn nữa, sự tuân thủ với thuốc thường là kém, dẫn đến tỷ lệ cao của sự tái phát và nhập viện. Nhiều bệnh nhân tiếp tục có những khiếm khuyết về chức năng và xã hội đáng kể sau khi các triệu chứng cấp tính đã được cải thiện. Sự thiếu vắng các kỹ năng quan hệ giữa người với người, chức năng xã hội tiền bệnh lý kém thường dẫn đến sự suy thoái các mạng lưới xã hội của các bệnh nhân tâm thần phân liệt. Hậu quả là họ thường trở nên dựa vào gia đình họ để có sự hỗ trợ xã hội. Chính vì thế, việc điều trị cho bệnh nhân tâm thần, ngoài thuốc ra, nên áp dụng các phương pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội cho họ.
Các can thiệp tâm lý xã hội bao gồm một loạt các phương pháp làm tăng các khả năng xã hội, sự tự lo cho mình, các kỹ năng thực tế và giao tiếp giữa người với người ở các bệnh nhân tâm thần phân liệt. Mục đích là làm cho các bệnh nhân phát triển các kỹ năng xã hội và nghề nghiệp để sống độc lập. Những điều trị như vậy được thực hiện ở nhiều nơi, bao gồm bệnh viện, các cơ sở ngoại trú, các trung tâm sức khỏe tâm thần, các bệnh viện ban ngày, tại nhà, các câu lạc bộ xã hội. Các nghiên cứu nền tảng trong những thập niên gần đây đã ủng hộ hiệu quả của một số điều trị tâm lý xã hội./.
Mai Trang