[Đăng ngày: 28/07/2017]
Những khớp háng đã bị thoái hóa nặng, mất chức năng, biện pháp điều trị là thay thế bằng một khớp háng nhân tạo, đây là kỹ thuật chỉnh hình phổ biến hiện nay.

Theo các chuyên gia chấn thương chỉnh hình, có hai loại khớp háng nhân tạo được sử dụng, đó là loại dùng xi măng và loại không cần xi măng để cố định khớp. Xu hướng trên thế giới là sử dụng loại khớp không xi măng. Năm 1980, trong lĩnh vực chỉnh hình được giới thiệu lớp phủ hydroxyapatite plasma (HA) như một lớp phủ trên bề mặt kim loại cấy ghép.

Lớp phủ Hydroxy apatite giúp liên kết trực tiếp với xương, thúc đẩy nhanh định hình, tăng sự mọc bám của xương vào vật liệu nhân tạo. Điều này giúp có một kiểu cố định sinh học tốt, đáng tin cậy hơn giữa bề mặt vật liệu cấy ghép và xương liền kề, giảm các mảnh hạt vỡ do mài mòn, gia tăng sự tồn tại của vật liệu nhân tạo Hydroxy apatite được sử dụng rộng rãi trong vật liệu thay khớp háng nhân tạo, là vật liệu phủ lên bề mặt khớp ti tan hoặc hợp kim của nó Ti-6A1-4V và hợp kim cobalt chrome. Sau phẫu thuật, vật liệu nhân tạo có phủ hydroxy apatite giúp tạo ra các cầu nối đối với những khuyết xương trong khoảng 2mm, điều này rất quan trọng, vì sau mổ, ban đầu có thể không đạt được sự tiếp xúc toàn diện của bề mặt khớp nhân tạo và xương liền kề ngay sau mổ.

Từ tháng 3/2013 đến tháng 11/2015, nhóm tác giả Đào Xuân Thành, Nguyễn Quốc Dũng - Bộ môn Ngoại Đại học Y Hà Nội và Khoa phẫu thuật Khớp Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Kết quả phẫu thuật thay khớp háng toàn phần không xi măng có lớp phủ hydroxyapatite”.

Theo BS Đào Xuân Thành, nghiên cứu có 73 bệnh nhân với 80 khớp háng toàn phần không xi măng có lớp phủ hydroxyapatite (HA) được thực hiện phẫu thuật lần đầu tại Bệnh viện Bạch Mai, có 7 bệnh nhân được thay cả hai khớp háng. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân là các bệnh nhân thay khớp háng không xi măng có lớp phủ HA quanh ổ cối và chuôi khớp. Kỹ thuật mổ là lối vào khớp phía sau bên (posterolateral).

Tiêu chuẩn loại trừ là các bệnh nhân thay khớp háng toàn phần không xi măng sử dụng loại khớp nhân tạo khác, sử dụng lối vào khớp không phải lối sau bên. Các bệnh nhân thay khớp háng bán phần lưỡng cực (bipolar) hoặc khớp lai (hybrid), những bệnh nhân thay lại khớp. Theo dõi sau phẫu thuật được thực hiện các thời điểm sau mổ 7 ngày, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 24 tháng, theo lịch hẹn.

Theo phân tích của BS Đào Xuân Thành, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 53,4; người trẻ nhất 21 tuổi, già nhất 82 tuổi. Qua kiểm tra đánh giá 80 khớp háng toàn phần không xi măng có lớp phủ HA, thời gian theo dõi trung bình sau mổ là 26,54 tháng, kết quả nhóm đối tượng nghiên cứu rất tốt là 94% (75/80);  tốt có 2/80 trường hợp, trung bình 3/80 trường hợp và không có trường hợp kết quả xấu. Kết quả đánh giá chức năng khớp theo thang điểm của Harris, đối tượng nghiên cứu trước phẫu thuật trung bình là 42,17; sau phẫu thuật là 97,6. Tất cả các trường hợp mổ đều có biên độ vận động gấp khớp háng sau phẫu thuật không dưới 90 độ.

Sau phẫu thuật ở 3, 6, 12 tháng; triệu chứng và mức độ đau giữa đùi giảm dần với tỷ lệ từ 37,5%; giảm 18,7% và 12 tháng giảm chỉ còn 3,7%. Các trường hợp kiểm tra sau mổ 24 tháng không có bệnh nhân nào còn triệu chứng đau đùi, đây là bằng chứng cho thấy có sự ổn định cả về cơ sinh học quanh chuôi khớp không xi măng phủ HA.

Tác giả nghiên cứu cho biết nếu theo phân loại của Dorr, trong suốt quá trình theo dõi sau phẫu thuật 12 tháng, nhận thấy không có sự khác biệt giữa triệu chứng đau đùi và loại xương đùi. Mức độ và số trường hợp đối tượng nghiên cứu đau đùi giảm theo thời gian; tuy nhiên triệu chứng đau đùi có mối liên quan đến mức độ áp khít đầu trên xương đùi. Chuôi có độ áp khít 80% gây tỷ lệ đau đùi ít hơn chuôi có độ áp khít dưới 80%.

Theo các nghiên cứu khác nhau trong và ngoài nước, tai biến thường gặp trong quá trình mổ thay khớp háng toàn phần là chảy máu, thủng ổ cối, vỡ toác đầu trên xương đùi, gãy xương đùi, tổn thương mạch máu, thần kinh. Trong nghiên cứu, tác giả Đào Xuân Thành cho biết không có trường hợp nào phải truyền máu trong quá trình phẫu thuật. Thời gian phẫu thuật được thực hiện nhanh, chính xác, cầm máu triệt để, thời gian phẫu thuật từ 30 phút đến 90 phút. Đường rạch da chỉ khoảng 7-9cm, ít gây tổn thương phần mềm, không gây chảy máu nhiều. Với phương pháp sử dụng mổ lối vào sau bên, không đặt banh vết mổ quá sâu, không bóc tách nhiều nên tránh được tổn thương thần kinh.

Tác giả nghiên cứu lưu ý là đặt ổ cối đúng kỹ thuật, khoan và bắt vít chỉ hướng về phía ¼ sau trên của ổ cối là nơi có thành xương dày nhất và không có mạch máu lớn. Trong nghiên cứu không có trường hợp nào nhiễm khuẩn, bệnh nhân được tuân thủ triệt để nguyên tắc vô khuẩn trong phòng mổ, quá trình phẫu thuật, khử khuẩn dụng cụ đúng quy cách, sử dụng kháng sinh dự phòng trước, trong và sau điều trị. Đối tượng nghiên cứu không có trường hợp có biến chứng trật khớp. Trên phim X quang chuôi khớp không bị di lệch, cố định cơ sinh học đảm bảo tốt, sau 12 tháng 100% ca đều có mối hàn xương.

Tường Huân

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 451

Số lượt truy cập: 9358140

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang