[Đăng ngày: 27/07/2017]
Viêm khớp dạng thấp là bệnh lý viêm mô hoạt dịch ở khớp kéo dài, gây ăn mòn xương, phá huỷ sụn và mất toàn bộ cấu trúc của khớp; biến dạng khớp đưa đến hậu quả tàn phế.

Viêm khớp dạng thấp thường gặp ở người lớn, tuổi khởi phát bệnh từ 30-50 tuổi. Phụ nữ bị bệnh nhiều gấp đôi nam giới. Trong vòng 3 năm sau khi chẩn đoán bệnh, nếu không điều trị, bệnh gây ra tàn tật vĩnh viễn; mất sức lao động khoảng 20-30% tổng số bệnh nhân. Yếu tố nguy cơ gây ra bệnh viêm khớp dạng thấp gồm tiền sử gia đình có người bị viêm khớp dạng thấp; lớn tuổi; tiếp xúc với silic, hút thuốc lá; uống café nhiều hơn 3 ly mỗi ngày. Một số yếu tố có thể làm giảm bệnh là sử dụng vitamin D, uống trà, sử dụng thuốc ngừa thai.

Viêm khớp dạng thấp là bệnh viêm khớp mạn tính, thuộc nhóm bệnh tự miễn. Do diễn biến của bệnh kéo dài nên sự kết hợp điều trị thuốc và phục hồi chức năng là rất cần thiết trong suốt quá trình điều trị và áp dụng càng sớm càng tốt.

Từ tháng 10/2011 đến tháng 3/2012, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Kim Liên cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành báo cáo nghiên cứu “Sự hiểu biết của người bệnh về vận động phục hồi chức năng chi trên trong viêm khớp dạng thấp”. Đối tượng nghiên cứu có 99 bệnh nhân được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp theo tiêu chuẩn Hội Thấp khớp học của Mỹ (ARA) tại Khoa Cơ Xương khớp Bệnh viện Bạch Mai.

Theo tác giả nghiên cứu, đây là nghiên cứu cắt ngang, chỉ số nghiên cứu gồm xác định vị trí những khớp đã và đang bị tổn thương; xác định tầm vận động khớp cổ bàn ngón tay bệnh nhân; đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của người bệnh; đánh giá khả năng độc lập trong sinh hoạt hàng ngày theo Barthel; từ 0-20 điểm phụ thuộc hoàn toàn; từ 25-95 điểm phụ thuộc một phần; 95-100 điểm là độc lập hoàn toàn..

Theo BS. Kim Liên phân tích, độ tuổi đối tượng nghiên cứu từ 23-83; nhóm 50-59 chiếm nhiều nhất với 39%. Bệnh nhân nữ gấp gần 4 lần so với bệnh nhân nam giới. Trình độ giáo dục phổ thông chiếm hơn 43%, tiểu học 15%. Thời gian bị bệnh từ dưới 1 năm đến trên 10 năm; tỷ lệ mắc bệnh 2-5 năm chiếm 37,4%; dưới 1 năm là 25,3%; trên 10 năm là 24%. Tỷ lệ bệnh nhân có tầm vận động gấp khớp cổ tay ở mức độ bình thường là 43%; hạn chế nhẹ là 31%; hạn chế vừa là 19% và gấp khớp cổ tay ở mức hạn chế nặng là 6%; tỷ lệ tương ứng của tầm vận động duỗi là tương tự.

Tác giả nghiên cứu cho biết đa số đối tượng nghiên cứu phải phụ thuộc một phần trong sinh hoạt hàng ngày, chiếm đến 73%, có 13% đối tượng nghiên cứu phụ thuộc hoàn toàn; 14% đối tượng nghiên cứu độc lập hoàn toàn. Trong đợt tiến triển của bệnh viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân đau nhiều, do đó khó có thể độc lập hoàn toàn trong các sinh hoạt hàng ngày. Do thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu chủ yếu từ 2-5 năm nên các bệnh nhân chưa tới mức phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự giúp đỡ của người khác. Có 5% đối tượng nghiên cứu không có tổn thương tại các khớp cổ- bàn- ngón tay; còn lại đa số đối tượng nghiên cứu đều có tổn thương các khớp này. Trong đó tổn thương khớp cổ tay chiếm tỷ lệ đến 88%; khớp bàn ngón 79%; tổn thương khớp liên đốt ngón tay là 67%. Nhìn chung, khớp cổ tay bị hạn chế vận động nhiều hơn khớp bàn tay. Điều này có thể lý giải vì tổn thương khớp cổ tay chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong các khớp cổ-bàn- ngón tay.

BS.Kim Liên báo cáo đa số đối tượng nghiên cứu chưa có kiến thức tốt về viêm khớp dạng thấp đối với vận động phục hồi chức năng; có 31% cho rằng phục hồi chức năng chỉ giúp ích rất ít trong việc điều trị bệnh của họ; 10,5% đối tượng nghiên cứu cho rằng phục hồi chức năng không có tác dụng gì. Trong số 86 đối tượng nghiên cứu biết về vận động phục hồi chức năng khớp cổ-bàn- ngón tay, có 25% có ý thức chủ động tìm hiểu thông tin giữa các kênh khác nhau hoặc nhờ sự tư vấn của cán bộ y tế. Báo cáo cũng cho thấy có rất ít đối tượng nghiên cứu chịu luyện tập khi bị viêm khớp. Những đối tượng nghiên cứu có luyện tập phục hồi chức năng 40% cảm thấy có hiệu quả tốt; còn lại thấy hiệu quả ít hoặc không có hiệu quả.

Theo BS.Kim Liên, đối tượng nghiên cứu đều cảm nhận được các cơn đau làm hạn chế tầm vận động, làm cản trở hoạt động trong sinh hoạt của người bệnh. Khi có kiến thức đúng, người bệnh hiểu cách vận động sao cho có hiệu quả; bao nhiêu lần trong ngày, cường độ tập ra sao; tập vào lúc nào; do vậy việc tập luyện phục hồi chức năng có hiệu quả hơn, duy trì tập luyện đều đặn hơn, bệnh thuyên giảm nhanh; tầm vận động khớp được cải thiện đáng kể; kết quả đem lại như mong đợi. Những bệnh nhân gia đình có người bị viêm khớp dạng thấp kiến thức về bệnh cũng tốt hơn; những bệnh nhân có trình độ học vấn cao cũng hiểu biết về bệnh tốt hơn, chủ động hơn trong việc tìm hiểu kiến thức, phương pháp điều trị.

Chúng ta biết rằng điều trị viêm khớp dạng thấp, giai đoạn cấp điều trị giảm đau và bảo vệ chức năng khớp. Đặt khớp ở vị trí thích hợp và nẹp lại để bảo vệ khớp. Ở giai đoạn bán cấp cần tăng dần các vận động chủ động và thụ động của khớp bệnh. Đối với giai đoạn mạn tính điều trị bảo vệ khớp, làm những việc đơn giản, các việc hàng ngày phục vụ bản thân. Sử dụng các trang bị phù hợp, nẹp, các dụng cụ trợ giúp cho người tàn tật. tập vật lý trị liệu, tập thể dục để bảo vệ khớp, phục hồi hoạt động khớp bệnh và các cơ bị bệnh quanh khớp. Điều trị các biểu hiện khô môi, khô mắt bằng nước mắt nhân tạo, nước bọt nhân tạo; chăm sóc răng miệng theo chuyên khoa.

Hữu Lai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 111

Số lượt truy cập: 9368663

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang