
Loạn nhịp tim là sự rối loạn họat động điện sinh học của tim về ba mặt: sự tạo thành xung động, dẫn truyền xung động, sự phối hợp giữa tạo thành và truyền dẫn xung động. Rối loạn nhịp tim có nhiều loại, gặp ở tất cả các khoa lâm sàng và ngay cả ở những người bình thường, một người bệnh cùng một lúc có thể gặp nhiều rối loạn nhịp tim khác nhau, mặt khác từ rối loạn nhịp tim này có thể chuyển thành các rối loạn nhịp tim khác. Ngay cả các thuốc điều trị rối loạn nhịp tim cũng có thể gây rối loạn nhịp tim. Nếu phân tích kỹ lưỡng từng trường hợp có loại loạn nhịp tim không cần phải điều trị, những vấn đề này các thầy thuốc cần phải nắm vững để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong lâm sàng.
Từ tháng 7/2014 đến tháng 6/2015, tác giả Triệu Thị Hoàng Lâm đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Tình hình rối loạn nhịp tim ở người lớn tuổi điều trị tại khoa nội Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hoà”. Tiêu chuẩn chọn đối tượng là tất cả bệnh nhân điều trị tại khoa Nội Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hoà, loại trừ bệnh nhân có điện tim bình thường, bệnh nhân không đồng ý tham gia.
Về tiêu chuẩn chẩn đoán, theo tác giả nghiên cứu đo điện tim là phương pháp đầu tiên nên được chọn lựa ở bệnh nhân rối loạn nhịp tim, nó giúp người thầy thuốc phân biệt được rối loạn nhịp tim, ngoài ra còn giúp phát hiện được bệnh lý nguy hiểm như cơn đau thắt ngực không ổn định, bệnh tim thiếu máu cục bộ nhồi máu cơ tim…Hai là thực hiện các xét nghiệm cơ bản cần thực hiện: chụp Xquang tim phổi, siêu âm tim; Các xét nghiệm sinh hoá máu, Glucoza máu, Ure, Creatinin…Ba là đo huyết áp, xác định và phân độ tăng huyết áp.
Đánh giá rối loạn nhịp tim với một số yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp tại bệnh viện Ninh Hòa:
Chẩn đoán xác định rối loạn nhịp tim
Đang bị hoặc có tiền sử bị bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp, suy thận…hoặc bệnh nhân đang uống thuốc điều trị mà có rối loạn nhịp tim.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 384 đối tượng nghiên cứu bị rối loạn nhịp tim, nam giới có tỷ lệ là 38,5%, nữ giới 61,5%. Nhóm tuổi 60-70 chiếm tỷ lệ 25,8%; nhóm 71-79 tuổi chiếm 37,8%; nhóm từ 80 tuổi trở lên chiếm 36,5%. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu lớn hơn 60 tuổi có yếu tố nguy cơ tim mạch đi kèm, có rối loạn nhịp tim chiếm 29,09%. Theo Bs Lâm đây là tỷ lệ khá cao so với các nghiên cứu khác trong toàn quốc. Đối với tỷ lệ rối loạn nhịp tim nhanh là 51,6%, loạn nhịp xoang 32,5%. Tỷ lệ bị rối loạn nhịp tim ở người có cơn đau thắt ngực rất cao chiếm 48,3%.
Phân tích về mối liên hệ giữa rối loạn nhịp tim tính một số yếu tố nguy cơ tim mạch thường gặp, Bs Lâm cho biết, đối với yếu tố giới tỷ lệ mắc rối loạn nhịp tim ở nam và nữ là tương đương nhau; nhóm tuổi từ 80 tuổi trở lên bị rối loạn nhịp tim cao hơn các nhóm tuổi khác, tỷ lệ mắc bệnh rối loạn nhịp tim ở 2 nhóm có tăng huyết áp và không tăng huyết áp là tương đương nhau; tỷ lệ mắc rối loạn nhịp tim ở 2 nhóm bệnh nhân có đái tháo đường và không bị đái tháo đường là tương đương nhau; tỷ lệ mắc bệnh rối loạn nhịp tim ở bệnh cơn đau thắt ngực là rất cao chiếm 48,3% người bị cơ đau thắt ngực có nguy cơ rối loạn nhịp tim; Tỷ lệ mắc rối loạn nhịp tim ở 2 nhóm có suy tim và không có suy tim có sự khác biệt. Những người bị suy tim có nguy cơ cao bị rối loạn nhịp tim.
Bs Triệu Thị Hoàng Lâm đã đưa ra một số kiến nghị cụ thể để nâng cao kết quả điều trị, bệnh viện cần tổ chức tập huấn phác đồ điều trị rối loạn nhịp tim cho các thầy thuốc trong bệnh viện; Tập huấn đọc điện tim cho các bác sỹ.
Trong quá trình chẩn đoán và điều trị cán bộ y tế cần lưu ý: Cần phải đo điện tim, khám lâm sàng tim mạch ở người nghi ngờ đặc biệt là người lớn tuổi để phát hiện sớm rối loạn nhịp tim và tiến hành các xét nghiệm cần thiết để tìm ra được các bệnh liên quan.
Các bác sĩ cần điều trị theo đúng phác đồ, kết hợp với việc tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân để bệnh nhân điều trị liên tục, tránh trường hợp bỏ trị. Ví dụ có thể dùng ti vi trước cửa phòng chờ, phát những đoạn video của các bác sĩ uy tín tại bệnh viện thăm khám, truyền đạt thông tin cho người dân biết độ nguy hiểm của bệnh rối loạn nhịp tim, vừa nâng cao uy tín của bệnh viện vừa giúp bệnh nhân nắm bắt được kiến thức giúp hợp tác tốt với điều trị.
Tổ chức tuyên truyền sâu rộng giáo dục sức khỏe trong cộng đồng về bệnh tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim, đái tháo đường…
Đối với bệnh nhân rối loạn nhịp tim đơn thuần hay (có bệnh lý tim mạch đi kèm). Cần phải được thăm khám, kiểm tra thường xuyên phòng ngừa biến chứng xảy ra.
Mỗi cá nhân cần có ý thức trong việc khám sức khỏe định kỳ. Giảm số lượng rối loạn nhịp tim, các biến chứng do rối loạn nhịp tim và các bệnh tim mạch sẽ góp phần giảm thiểu nguy cơ tai biến, giảm bớt gánh nặng cộng đồng. Qua đó nâng chất lượng cuộc sống, tăng tuổi thọ cho người dân.
Thanh Tùng