
Từ tháng 3/2015 – tháng 10/2015 tác giả Lê Thanh Nhã đã thực hiện nghiên cứu “Tình hình trẻ sơ sinh đủ tháng nhẹ cân tại khoa Phụ sản Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa”.
Nghiên cứu được thực hiện trên nhóm bệnh gồm 30 sản phụ và trẻ sơ sinh có tuổi thai 38-41 tuần 6 ngày có cân nặng dưới 2500 gram, nhóm chứng gồm 30 sản phụ và trẻ sơ sinh tuổi thai 38-41 tuần 6 ngày có cân nặng 2500 gram – 3500 gram, được sinh ra tại khoa Phụ sản Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa.
Tiêu chuẩn chọn nhóm bệnh gồm tuổi thai 38-41 tuần 6 ngày được tính theo ngày kinh cuối cùng, siêu âm trong 3 tháng đầu; trẻ sinh ra còn sống và có cân nặng dưới 2500 gram. Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng gồm sản phụ có cùng địa dư, nhóm tuổi; tuổi thai 38-41 tuần 6 ngày; trẻ sinh ra còn sống và có cân nặng 2500 gram – 3500 gram.
Theo tác giả Lê Thanh Nhã, trong thời gian nghiên cứu có 1849 trẻ sơ sinh đủ tháng, được sinh ra tại khoa Phụ sản Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa và có 30 trẻ đủ tháng ở tuổi thai 38 - <42 tuần, có cân nặng dưới 2500gr chiếm tỷ lệ 1,62%.
Những bà mẹ sinh con nhẹ cân chủ yếu tập trung trong độ tuổi sinh đẻ, tuổi trung bình là 29,38 ± 6,81 tuổi; tuổi nhỏ nhất là 17 tuổi, lớn nhất là 49 tuổi.
Trong độ tuổi sinh đẻ cơ thể người phụ nữ đã hoàn chỉnh đang trong thời kỳ phát triển tốt nhất, những thai phụ nhỏ tuổi khi cơ thể chưa hoàn thiện, nên có hiện tượng tranh giành dinh dưỡng, một phần dùng để cung cấp cho sự phát triển của cơ thể mẹ, hơn nữa ở những đối tượng này chưa có kiến thức về sức khỏe sinh sản, chưa hoàn toàn sẵn sàng làm mẹ, hoàn cảnh kinh tế chưa ổn định. Mặt khác, khi cơ thể mẹ lớn tuổi, hệ thống mạch máu và các cơ quan đã bắt đầu suy thoái nên cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của thai không được tốt. Kết quả nghiên cứu cho thấy những bà mẹ sinh con nhẹ cân có địa bàn cư trú ở đồng bằng chiếm tỷ lệ 46,7%, ven biển 33,3% và miền núi là 20%.
Nghề nghiệp chủ yếu của sản phụ trong nhóm trẻ nhẹ cân là làm nông chiếm 36,7%; nội trợ 30,0%; trong khi đó ở nhóm chứng chỉ chiếm 33,3% và 20%.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những sản phụ sinh con nhẹ cân có chỉ số khối cơ thể BMI gầy 23,3%. Mức tăng cân trong thai kỳ < 9kg chiếm 60%; mức tăng cân trung bình 9,65 ± 4,509kg. Những sản phụ sinh trẻ nhẹ cân có mức tăng cân trong thai kỳ thấp hơn 9kg, cao gấp 3,61 lần so với ở nhóm trẻ có cân nặng bình thường. Bệnh lý mẹ hay gặp là thiếu máu 33,3%; tiền sản giật 30%. Các sản phụ bị thiếu máu có nguy cơ sinh con nhẹ cân cao gấp 4,33 lần, ở bà mẹ bị tiền sản giật nguy cơ này cao gấp 5,73 lần so với nhóm chứng. Bệnh lý thai và phần phụ thai hay gặp là thiểu ối 63,3%. Trong nhóm trẻ nhẹ cân có tỷ lệ bị thiểu ối cao gấp 4,75 lần so với nhóm trẻ có cân nặng bình thường.
Một số đặc điểm bệnh lý lâm sàng, cận lâm sàng trẻ sơ sinh đủ tháng nhẹ cân của bệnh lý trẻ sơ sinh gồm suy hô hấp 10%; bỏ bú 10%; nôn 16,7%; vàng da 20% và nhiễm trùng sơ sinh 30%. Thời gian xuất hiện triệu chứng bệnh lý vào ngày thứ nhất 37,5%; tỷ lệ can thiệp 66,7%. Không có tử vong ở trẻ đủ tháng nhẹ cân trong thời gian nghiên cứu.
Theo tác giả Lê Thanh Nhã, về hậu quả của những trẻ đủ tháng nhẹ cân, trẻ không những có nguy cơ mắc bệnh và tử vong chu sinh cao hơn so với trẻ bình thường, mà còn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển của trẻ sau này. Theo nghiên cứu của Ho NK tổng kết trong vòng 8 năm (1982 – 1989) tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh tại bệnh viện Toa Payoh, Singapore là 6,52 – 9,55%. Trong đó 48,5% rơi vào trường hợp trẻ sơ sinh có cân nặng rất thấp < 1500 gram, nguyên nhân chủ yếu là suy hô hấp, hít phân su và nhiễm trùng. Theo Cungningham, có nhiều biến chứng trước, trong và sau đẻ trên những thai nhi kém phát triển trong tử cung như: thai chết lưu, ngạt chu sinh, hít phân su, hạ đường máu, hạ thân nhiệt cũng như có ảnh hưởng đến sự phát triển thần kinh sau này, tuy nhiên một vài nghiên cứu cho rằng không thấy sự khác biệt và bất thường về thần kinh ở những trẻ nhẹ cân trong 5 năm đầu tiên. Vấn đề phát triển sau sinh phụ thuộc vào nhiều vấn đề như nguyên nhân gây nhẹ cân, môi trường sống hiện tại, điều kiện kinh tế xã hội. Nếu nguyên nhân do bất thường nhiễm sắc thể, vi rút, dị dạng bẩm sinh thì hầu như không phục hồi được trọng lượng sau sinh, tuy nhiên nếu nguyên nhân do suy tuần hoàn tử cung rau thì khả năng có thể phục hồi trọng lượng sau sinh. Theo các nghiên cứu trên thế giới, thai có cân nặng nhỏ hơn tuổi thai có chu vi vòng bụng nằm dưới đường bách phân vị thứ 10 cho thấy 25,9% trẻ sinh ra có biến chứng chu sinh bao gồm chết trong chuyển dạ, tử vong sơ sinh, biến chứng thần kinh, viêm ruột hoại tử.
Tác giả Lê Thanh Nhã đã có những khuyến nghị để dự phòng hạn chế tỷ lệ sinh trẻ nhẹ cân cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đủ, ngành y tế cần khám và quản lý thai đầy đủ, toàn diện. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe nói chung và sức khỏe sinh sản nói riêng để nâng cao kiến thức sinh sản cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Cán bộ y tế cần cung cấp sắt cho phụ nữ mang thai 1 viên/ngày từ quý 2 của thai kỳ đến sau sinh 1 tháng. Bên cạnh đó cũng cần thực hiện hiệu quả công tác dân số kế hoạch hóa gia đình./.
Bảo Trâm