
Viêm phổi là tình trạng phổi bị viêm, ảnh hưởng chủ yếu đến các túi khí nhỏ được gọi là phế nang. Viêm phổi thường gây ra bởi hiện tượng nhiễm trùng do virus hoặc vi khuẩn và các vi sinh vật khác ít phổ biến hơn.
Viêm phổi chiếm khoảng 33% trong tổng số tử vong ở trẻ do mọi nguyên nhân. Tại khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa, bệnh lý khiến bệnh nhân dưới 5 tuổi phải nhập viện điều trị nội trú hàng đầu là viêm phổi. Việc xác định nguyên nhân còn nhiều khó khăn, nên điều trị chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Chỉ định kháng sinh không hợp lý sẽ gây nhiều hậu quả nghiêm trọng: bệnh nặng hơn, thời gian điều trị kéo dài, vi khuẩn đề kháng kháng sinh …
Bên cạnh đó, kiến thức của gia đình về viêm phổi cũng rất quan trọng, giúp cho họ biết theo dõi bệnh, phát hiện dấu hiệu nặng cần đưa đến bệnh viện kịp thời, không tự mua thuốc điều trị.
Từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014, BS Phạm Thị Hải Vân đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tình hình viêm phổi ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa Nhi Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa”. Nghiên cứu chọn trẻ dưới 5 tuổi điều trị tại khoa Nhi năm 2014 có chẩn đoán khi ra viện là viêm phổi. Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi lâm sàng: sốt, ho, thở nhanh. X-quang phổi có hình ảnh tổn thương của phế nang và tiểu phế quản tận là tiêu chuẩn chính để xác định viêm phổi. Chẩn đoán viêm phổi nặng: Khi có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán viêm phổi kèm theo bất kỳ một trong các dấu hiệu sau: rút lõm lồng ngực, thiếu oxy tím môi, SpO2 < 95%, bỏ bú, bỏ ăn.
Theo Bs Hải Vân, có 355 trẻ dưới 5 tuổi đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị viêm phổi tại khoa Nhi là 35,2%, bệnh xảy ra quanh năm nhưng tăng cao vào 6 tháng cuối năm, đỉnh điểm là tháng 10 (57%). Tỷ lệ viêm phổi nặng là 19,4%. Tỷ lệ viêm phổi và viêm phổi nặng ở nhóm 1 – 12 tháng cao hơn nhóm > 12 – 24 tháng và nhóm 24 - <60 tháng một cách có ý nghĩa. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ viêm phổi và viêm phổi nặng giữa nhóm >12 – <24 tháng và nhóm 24 - <60 tháng.
Đối với đặc điểm lâm sàng, kết quả nghiên cứu cho thấy triệu chứng sốt, trẻ viêm phổi có thể không sốt (23,4%) nhưng thường gặp nhất là có sốt (76,6%), trong đó sốt vừa chiếm 30,7%.
Đối với tần số thở, trẻ viêm phổi có tần số thở nhanh. Trẻ viêm phổi nặng có tần số thở rất nhanh hoặc chậm.
Về triệu chứng rút lõm lồng ngực: Trẻ viêm phổi thông thường không có dấu rút lõm lồng ngực. 40,6% trẻ viêm phổi nặng có dấu rút lõm lồng ngực. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Triệu chứng ho: 91,8% trẻ viêm phổi có triệu chứng ho. Tuy nhiên không có sự khác biệt giữa 2 nhóm viêm phổi thường và viêm phổi nặng.
Triệu chứng khò khè: 83,9% trẻ viêm phổi có triệu chứng khò khè. Trẻ viêm phổi nặng thường gặp triệu chứng khò khè hơn viêm phổi thường.
Phổi có ran ẩm, ran nổ: 82% trẻ viêm phổi có ran ẩm hoặc ran nổ. Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm viêm phổi thường và viêm phổi nặng.
Suy dinh dưỡng: 55,2% trẻ viêm phổi có suy dinh dưỡng kèm theo. Nhóm viêm phổi thường có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao hơn nhóm viêm phổi nặng.
Một số triệu chứng lâm sàng khác: trẻ bị viêm phổi 81,1% có triệu chứng ăn uống kém, 28,2% có kèm tiêu chảy, 11% kèm nôn mửa. Trẻ viêm phổi nặng có tỷ lệ tiêu chảy cao hơn viêm phổi thông thường.
Đối với đặc điểm cận lâm sàng:
CRP: 18,6% trẻ viêm phổi được chỉ định xét nghiệm CRP, trong đó viêm phổi thông thường là 15%, viêm phổi nặng là 33,3%. Do sự khác biệt này nên không so sánh được tỷ lệ CRP âm tính và dương tính giữa 2 nhóm.
Bạch cầu máu cao: Có 46,5% trẻ viêm phổi có bạch cầu trong máu tăng cao, không có sự khác biệt giữa 2 nhóm viêm phổi thông thường và viêm phổi nặng.
Hb máu thấp: Có 78,3% trẻ viêm phổi có Hb máu thấp, không có sự khác biệt giữa 2 nhóm viêm phổi thông thường và viêm phổi nặng.
X-quang phổi có tổn thương: Có 82% trẻ viêm phổi có hình ảnh tổn thương phổi trên X-quang, không có sự khác biệt giữa 2 nhóm viêm phổi thông thường và viêm phổi nặng.
Đối với tình hình điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy, có 73,2% trẻ viêm phổi được cho uống kháng sinh trước khi nhập viện, tỷ lệ uống kháng sinh trước khi nhập viện ở nhóm viêm phổi thông thường cao hơn nhóm viêm phổi nặng.
Về chuyển đổi kháng sinh: có 13% trẻ viêm phổi cần chuyển đổi kháng sinh trong quá trình điều trị, không có sự khác biệt giữa nhóm viêm phổi thông thường và viêm phổi nặng.
Phối hợp kháng sinh: có 68,2% trẻ viêm phổi cần phối hợp kháng sinh trong quá trình điều trị, nhóm viêm phổi nặng tỷ lệ phối hợp kháng sinh cao hơn nhóm viêm phổi thông thường.
Kết quả điều trị: 99% khỏi bệnh, 1% chuyển viện, không có tử vong. Tỷ lệ viêm phổi nặng chuyển viện cao hơn viêm phổi thông thường.
Về thời gian điều trị: 72% điều trị < 7 ngày, 28% điều trị > 7 ngày. Nhóm viêm phổi nặng có thời gian điều trị > 7 ngày cao hơn nhóm viêm phổi thông thường.
Đối với kiến thức của thân nhân về viêm phổi: 48,5% phụ huynh có kiến thức đúng về bệnh viêm phổi trẻ em. 51,5% có kiến thức chưa đúng về bệnh viêm phổi trẻ em. Phụ huynh có kiến thức đúng về viêm phổi ở nhóm viêm phổi thông thường cao hơn nhóm viêm phổi nặng.
BS Phạm Thị Hải Vân đã đưa ra một số khuyến nghị là cần tăng cường truyền thông để nâng cao kiến thức của bà mẹ về bệnh viêm phổi trẻ em, nhất là cách phòng bệnh, cách nhận biết sớm các dấu hiệu của bệnh và xử trí ban đầu đúng cách.
Chỉ định định lượng CRP thường quy trong chẩn đoán viêm phổi. Những trường hợp nặng nếu cần thiết nên làm nhiều lần để theo dõi kết quả điều trị.
Tăng cường cấy máu, dịch mũi họng, làm kháng sinh đồ để phục vụ cho điều trị.
Luôn luôn đảm bảo thời gian sử dụng kháng sinh tối thiểu theo phác đồ.
Hạn chế phối hợp kháng sinh, chỉ phối hợp khi thật sự cần thiết.
Quế Lâm