
Tại Hội nghị Khoa học Y Dược miền Trung – Tây Nguyên lần thứ X được tổ chức tại TP. Buôn Mê Thuột tháng 10/2015, tác giả Nguyễn Hoài Phong – Khoa nội Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh cùng các cộng sự ở Sở Y tế Đăk Lăk đã báo cáo đề tài nghiên cứu “Hiệu quả phác đồ nối tiếp trên bệnh nhân loét dạ dày, tá tràng có HP dương tính”.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3-10/2014 tại Phòng khám nội và khoa nội của Bệnh viện Đa khoa Thiện Hạnh tỉnh Đăk Lăk. Có 43 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, là những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng hội chứng tiêu hóa loét dạ dày – tá tràng; bệnh nhân có hình ảnh loét dạ dày – tá tràng trên nội soi, và test Clo test dương tính bằng cách sinh thiết lấy 2 mảnh niêm mạc dạ dày thưc hiện ngay tại phòng nội soi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nam là 65% cao hơn so với nữ giới; tuổi trung bình là 43,4. Qua hình ảnh nội soi trước điều trị tác giả ghi nhận bệnh nhân loét vùng hang vị chiếm tỷ lệ cao nhất là 55,8%, tiếp đến là loét mặt trước hành tá tràng với tỷ lệ 46,5%, loét mặt sau hành tá tràng và bờ cong nhỏ chiếm tỷ lệ thấp. Không có ca nào loét vùng tiền môn vị và thân vị.
Những bệnh nhân có xét nghiệm Clo test dương tính được điều trị phác đồ nối tiếp là: 5 ngày đầu: Esomeprazole 40mg 1 viên/ngày + Amoxicillin 500mg 4 viên/ngày chia 2 lần; 5 ngày tiếp theo Esomeprazole 40mg 1 viên/ngày + Clarithromycin 500mg 2 viên/ngày chia 2 lần + Tinidazole 500mg 2 viên/ngày chia 2 lần. Bốn tuần tiếp theo Esomeprazole 40mg 1 viên/ngày uống vào buổi tối. Tác giả đã báo cáo, trước điều trị tất cả 43 trường hợp nghiên cứu có triệu chứng lâm sàng viêm loét dạ dày tá tràng và kèm theo có vết loét trên nội soi tiêu hóa trên cùng với Clotest dương tính. Sau điều trị phác đồ nối tiếp, có đến 39/43 trường hợp có kết quả clotest âm tính, chỉ còn 4 trường hợp có kết quả dương tính.
Đối với hiệu quả cải thiện, cắt cơn đau trên lâm sàng của phác đồ sau điều trị, theo dõi mỗi tuần sau điều trị cho thấy bệnh nhân cải thiện triệu chứng lâm sàng, hết đau dạ dày tá tràng; sau 1 tuần là 44,1%; sau 3 tuần điều trị chỉ còn 3 bệnh nhân còn tồn tại triệu chứng viêm loét dạ dày tá tràng.
Đối với hiệu quả làm lành ổ loét của phác đồ nối tiếp; sau điều trị có đến 36 trường hợp lành sẹo chiếm tỷ lệ 83,7%; 6 trường hợp có dấu hiệu thu nhỏ vết loét tổn thương và có 1 ca không thay đổi. Phân tích sau điều trị và đánh giá thay đổi tổn thương vết loét dạ dày tá tràng trên 2 nhóm còn vi khuẩn và không còn vi khuẩn Helicobacter pylori cho thấy, song song với cải thiện vết loét trên nội soi thì tiệt trừ vi khuẩn cũng nhiều hơn.
Đối với những tác dụng phụ như đắng miệng khi dùng thuốc chiếm tỷ lệ 23%; mệt mỏi, đầy bụng chiếm 11,6%; chán ăn 9,3%; buồn nôn, tiêu chảy chiếm tỷ lệ 7%.
Theo tác giả nghiên cứu H.pylori là nguyên nhân chủ yếu gây nên bệnh lý dạ dày tá tràng. Việc điều trị HP vẫn là vấn đề thách thức cho tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn này ngày càng tăng lên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Nhiều nghiên cứu tại Tây Ban Nha, Nhật Bản, Ấn Độ, Mexico phác đồ 3 thuốc kinh điển điều trị HP hiệu lực giảm chỉ khoảng 49-78%. Điều trị nối tiếp hay nói cách khác là thay đổi kháng sinh trong liệu trình điều trị với mục đích làm tăng hiệu quả điều trị tiệt căn vi khuẩn HP và khắc phục tình trạng kháng Clarithromycin. Tác giả cũng ghi nhận những bệnh nhân hết đau sớm thuộc nhóm có tỷ lệ tiệt trừ HP cao. Những bệnh nhân thất bại điều trị thường hết đau chậm hoặc còn đau sau quá trình điều trị. Các nghiên cứu đã cho thấy trong điều trị loét dạ dày tá tràng có HP dương tính có 2 nhóm thuốc điều trị chính đó là nhóm có tác dụng diệt trừ HP và nhóm làm lành sẹo ổ vết loét. Hiệu quả làm lành sẹo ổ loét là một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả của một phác đồ điều trị loét dạ dày – tá tràng. Khi ổ loét lành sẹo sẽ giúp giảm đau và đặc biệt hạn chế biến chứng xảy ra.
Trong điều trị loét dạ dày, chính tình trạng viêm dạ dày được cải thiện và khả năng hồi phục của niêm mạc sau điều trị loại bỏ HP thành công, sẽ giúp loại trừ được khuynh hướng tự nhiên là loét tái phát. Việc điều trị kháng tiết duy trì sau khi đã tiệt trừ HP cần tiến hành đặc biệt ở những bệnh nhân có biến chứng loét dạ dày tá tràng mạn tính gặp phổ biến ở Việt Nam. HP là nguyên nhân hàng đầu phối hợp cùng những nguyên nhân và các yếu tố thuận lợi khác gây ra những biến chứng loét dạ dày tá tràng, hiện nay tỷ lệ kháng thuốc phác đồ chuẩn 3 thuốc cổ điển đang ngày càng gia tăng.