[Đăng ngày: 01/11/2016]
Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật, đặc biệt là các nước thu nhập thấp và trung bình.
Khoảng 87% số ca tử vong do đột quỵ ước tính trên thế giới xảy ra ở các nước này. Hơn bốn thập kỷ qua, tỷ lệ mới mắc bệnh đột quỵ ở các nước thu nhập thấp và trung bình tăng hơn 100%, trái ngược với các nước có thu nhập cao lại giảm 42%. Tuy nhiên các nguồn số liệu dịch tễ có giá trị về đột quỵ lại hạn chế ở các nước thu nhập thấp, đặc biệt là các khu vực nông thôn và vùng sâu, do sự giới hạn về nguồn lực và quy mô dân số lớn.
Cùng với sự chuyển tiếp từ nước thu nhập thấp sang nước thu nhập trung bình ở Việt Nam, mô hình bệnh tật đang có sự chuyển đổi từ các bệnh lây nhiễm là chủ yếu sang các bệnh không lây. Trong quá trình chuyển tiếp này, số mắc và số tử vong của đột quỵ ngày càng tăng. Gần đây một nghiên cứu theo thời gian trong một bệnh viện miền Trung Việt Nam cho thấy tỷ lệ tử vong do đột quỵ trong 28 ngày là 37% tổng số tử vong, tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ được ước lượng ở các nước thu nhập thấp và trung bình với 26,6% và các nước thu nhập cao với 19,8%. Tỷ lệ tử vong cao như vậy có thể được giải thích là do sự thiếu các dịch vụ chăm sóc đột quỵ được tổ chức tốt. Những bệnh nhân với những trường hợp mắc đột quỵ ít nghiêm trọng ít khi đến bệnh viện, vì hầu hết bệnh nhân sẽ ở nhà hay tự tìm đến những người cung cấp dịch vụ y tế. Cho nên số liệu về những ca nhập viện này bị thiên lệch về phía những trường hợp nghiêm trọng, dẫn đến tỷ lệ tử vong cao. Những nghiên cứu dựa vào cộng đồng nên được tiến hành để đánh giá tỷ lệ hiện mắc, mới mắc và những yếu tố nguy cơ được tốt hơn.
Thạc sĩ Hà Thị Ninh (tổ chức MHSM) vừa qua đã có báo cáo tổng quan các nghiên cứu về đột quỵ và những yếu tố nguy cơ của bệnh được công bố trên Tạp chí Y học TP. HCM từ ngày 1/1/2007 đến ngày 30/12/2014.
Theo tác giả Hà Thị Ninh, cơ sở dữ liệu điện tử nghiên cứu trong Tạp chí Y học TP. HCM cho ra 58 bài báo. Trong đó, 55 tiêu đề loại ra, còn lại 3 tiêu đề phù hợp với yêu cầu. Về cơ sở dữ liệu trên PupMed, 8 bài báo được tìm thấy, trong đó có 3 bài không hợp tiêu chuẩn lựa chọn.
2 nghiên cứu được công bố năm 2010 và 6 nghiên cứu được xuất bản sau năm 2010. Có 5/8 nghiên cứu được công bố trong các tạp chí khoa học có bình duyệt.
Các nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ tử vong cao ở các bệnh nhân đột quỵ. Tỷ lệ tử vong do đột quỵ chiếm khoảng 20 – 22% trong nhiều bệnh viện ở các tỉnh phía Nam. Tỷ lệ tử vong do đột quỵ xuất huyết cao hơn trong các trường hợp đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Một nghiên cứu đoàn hệ thực hiện trên 754 bệnh nhân nhập viện ở Bệnh viện Đà Nẵng trong một năm. Trong 28 ngày đầu sau khi nhập viện, khoảng một nửa các bệnh nhân đột quỵ xuất huyết và một phần năm bệnh nhân đột quỵ do thiếu máu cục bộ bị tử vong.
Các yếu tố dự báo về tỷ lệ tử vong trong các bệnh nhân đột quỵ cũng được đưa ra. Cả hai trường hợp đột quỵ thiếu máu cục bộ và đột quỵ xuất huyết, tỷ lệ tử vong cao hơn trong số các trường hợp có CT sọ thể hiện đường giữa dịch chuyển trên 5mm, điểm hôn mê Glasgow nhỏ hơn 8 và bị viêm phổi. Yếu tố dự báo mạnh mẽ nhất là sự hiện diện của rối loạn ý thức, với nguy cơ tử vong trong 28 ngày tăng hơn ba lần. Những bệnh nhân bị đột quỵ xuất huyết có nguy cơ gia tăng 49% tử vong sau khi kiểm soát các yếu tố tuổi, giới tính và trình độ học vấn. Việc thực hiện các tiêu chuẩn chăm sóc được chấp nhận rộng rãi và phù hợp địa phương có tiềm năng giảm gánh nặng đột quỵ ở Việt Nam và các quốc gia khác đang đối mặt với tình trạng chuyển tiếp sức khỏe và nên được khuyến khích.
Đối với nghiên cứu lĩnh vực cộng đồng, theo tác giả nghiên cứu có nhiều nghiên cứu được thực hiện liên quan đến đột quỵ. Các nghiên cứu cắt ngang đầu tiên và toàn diện nhất đánh giá triệu chứng và các yếu tố nguy cơ của đột quỵ được thực hiện ở Đà Nẵng với cỡ mẫu gồm 1621 đối tượng trưởng thành. Nghiên cứu sử dụng công cụ STEP của WHO để đánh giá các yếu tố nguy cơ đột quỵ. Các kết quả chỉ ra rằng các triệu chứng đột quỵ phổ biến ở người trưởng thành, chiếm 25% dân số nghiên cứu. Nghiên cứu này cũng nhận thấy có 27,3% đối tượng được chẩn đoán tăng huyết áp, 26,2% có sử dụng thuốc lá và 16,1% thừa cân. Nghiên cứu xác định rằng có một gánh nặng nghiêm trọng về đột quỵ và các yếu tố nguy cơ ở Việt Nam. Phát triển các biện pháp can thiệp nên được cân nhắc để giảm tỷ lệ hiện mắc của đột quỵ và các yếu tố liên quan.
Một nghiên cứu về nhu cầu của người chăm sóc cho các bệnh nhân đột quỵ cho thấy được đề cập thường xuyên nhất là thông tin về việc phòng ngừa tái phát đột quỵ như thế nào, kế tiếp là những loại thuốc nào hiệu quả nhất trong phòng ngừa sự tái phát, thời gian phục hồi là bao lâu và tính sẵn có của các bệnh viện ở khu vực sinh sống của bệnh nhân. Một số người chăm sóc thể hiện mối quan tâm về tài chính. Nghiên cứu này cho rằng việc chăm sóc bệnh nhân đột quỵ một cách toàn vẹn bao gồm giáo dục cho người chăm sóc về các chế độ ăn lành mạnh và phòng ngừa sự tái phát đột quỵ là cần thiết tại các bệnh viện công ở khu vực phía Nam Việt Nam.
Ngoài ra cũng có một số nghiên cứu kiểm tra chất lượng của bằng chứng của cách điều tra nguyên nhân tử vong sử dụng phương pháp phỏng vấn (verbal autopsy). Các nghiên cứu này khẳng định giá trị của phương pháp phỏng vấn nguyên nhân tử vong để thay cho việc thiếu hụt các nghiên cứu chính thống có giá trị tại các quốc gia đang phát triển do thiếu các hồ sơ y tế. Sự hiểu biết về nội dung phương pháp phỏng vấn nguyên nhân tử vong cũng hình thành cơ sở cho cải thiện chất lượng cuộc phỏng vấn và việc thu thập số liệu để đạt được các thông tin tốt hơn về nghiên cứu đột quỵ trong tương lai.
Tác giả nghiên cứu Hà Thị Ninh có kết luận, hầu hết các nghiên cứu được đánh giá có cỡ mẫu ít hơn 2000 đối tượng. Trong khi cỡ mẫu đủ lớn có thể cung cấp năng lực thống kê đủ để thực hiện phân tích phân tầng theo nhóm tuổi và giới tính. Các cỡ mẫu của những nghiên cứu đã được đánh giá trong bài này có thể không đủ để phân tích sâu hơn. Nhiều nghiên cứu không cung cấp các định nghĩa yếu tố nguy cơ và loại đột quỵ một cách rõ ràng để có thể so sánh các kết quả giữa các nghiên cứu. Bài nghiên cứu tổng quan này cho biết trong khi đột quỵ phổ biến ở Việt Nam, ít nghiên cứu được thực hiện để hiểu một cách toàn vẹn các yếu tố nguy cơ cũng như gánh nặng bệnh tật của đột quỵ. Tác giả nghiên cứu cho rằng trong thời gian đến cần nhiều hơn nữa các thông tin mới, với các hoàn cảnh cụ thể và tình hình hiện nay để lập kế hoạch và giám sát can thiệp các yếu tố nguy cơ và đột quỵ ở Việt Nam.
Đức Bảo
   
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 229

Số lượt truy cập: 9360988

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang