{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn
[Đăng ngày: 27/10/2016]
Viêm loét giác mạc do vi khuẩn thường diễn biến nhanh dẫn đến hậu quả hết sức nặng nề. Trong nhiều năm gần đây các tác giả trong và ngoài nước đã có những nghiên cứu về tác nhân gây bệnh, hình thái lâm sàng và kết quả điều trị của các dung dịch tra mắt đối với viêm loét giác mạc do vi khuẩn.
Ở Việt Nam viêm loét giác mạc do vi khuẩn thường diễn biến nặng nề do nhận thức của nhân dân còn hạn chế. Đặc biệt ở các tuyến xã, huyện, tỉnh nơi điểm khởi đầu tiếp nhận bệnh nhân nhưng việc điều trị chưa được triệt để, thậm chí dùng kháng sinh lạm dụng và nguy hiểm hơn đó là việc sử dụng corticoid tra mắt. Do vậy nhiều bệnh nhân chuyển lên tuyến trung ương có bệnh cảnh lâm sàng rất phức tạp như: áp xe, hoại tử toàn bộ giác mạc, có nguy cơ thủng giác mạc, làm giảm hoặc mất chức năng thị giác. Việc sử dụng kháng sinh kịp thời dựa trên kết quả chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm rất là cần thiết để loại trừ tác nhân gây bệnh, bảo vệ tổ chức khỏi sự hủy hoại, tổn thương giác mạc ở mức thấp nhất.
Vấn đề điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn với việc sử dụng kháng sinh mới phổ rộng chống lại cả vi khuẩn gram (-) và vi khuẩn gram (+) là cần thiết để hạn chế đến mức thấp nhất biến chứng.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng của Besivance là một fluoroquinolone thế hệ IV, là dung dịch nhỏ mắt Fluoroquinolone 8-chloride được sử dụng để điều trị trong nhãn khoa, tác dụng tốt hơn những kháng sinh Quinolon thế hệ trước chống lại vi khuẩn gram (+) trong khi vẫn duy trì hiệu quả chống lại vi khuẩn gram (-) và vi khuẩn không điển hình. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng dung dịch nhỏ mắt Besivance có độ an toàn cao và độ dung nạp tốt. Những kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cung cấp thêm bằng chứng về hiệu quả của Besivance trong điều trị dự phòng trước phẫu thuật và điều trị nhiễm trùng gây đe dọa thị lực như viêm loét giác mạc, viêm nội nhãn…
Ở Việt Nam chưa có tài liệu nào đánh giá hiệu quả sử dụng thuốc này ở bệnh nhân viêm loét giác mạc do vi khuẩn.
Trong năm 2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Xuân Hiệp – Bệnh viện Mắt Trung ương cùng cộng sự Bệnh viện Đại học quốc gia Hà Nội đã công bố nghiên cứu “Đánh giá kết quả của thuốc tra mắt Besivance (Besifloxacin Ophthalmic suspension 0,6%) trong điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn.
Có 35 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không có đối chứng. Các bước nghiên cứu được tiến hành gồm: Khai thác bệnh sử, tiền sử; Khai thác các triệu chứng chủ quan như đau nhức, đỏ mắt, chảy nước mắt, nhìn mờ…; Thử thị lực; Khám thực thể, đánh giá tình trạng. Mi mắt – sưng nề mi mắt. Kết mạc – cương tụ kết mạc. Giác mạc - ổ loét chia 2 mức độ: Nhẹ (Đường kính ổ loét ≤ 3mm, loét nông dưới biểu mô đến 1/3 bề dày giác mạc. Thẩm lậu nhẹ, phản ứng màng bồ đào âm tính). Trung bình (Đường kính ổ loét nằm trong khoảng 3 đến 6mm; độ sâu của ổ loét từ 1/3 đến 2/3 bề dày giác mạc, có thẩm lậu trong nhu mô, có thể có phản ứng màng bồ đào, có thể có mủ tiền phòng ≤ 2mm). Tiền phòng: mủ tiền phòng có hay không. Mống mắt: Phản ứng của màng bồ đào có hay không. Xét nghiệm – soi tươi, soi trực tiếp và nuôi cấy vi khuẩn chất nạo ổ loét tìm vi khuẩn gây bệnh và định nhóm.
Phác đồ điều trị: Tra mắt – Dung dịch Besivance 0,6% x 10 lần/ngày. Trong 5-7 ngày không đỡ chuyển hướng điều trị. Dung dịch Indocollyre 0,1% x 4 lần/ngày: chống viêm. Dung dịch Atropin 1% x 2 lần/ngày: chống dính. Dinh dưỡng giác mạc (Vitamin A, Sanlein).
Đánh giá lại các chỉ số: thị lực, tình trạng ổ loét giác mạc, tình trạng tiền phòng… sau 5 đến 7 ngày điều trị. Kết quả chung được đánh giá theo ba mức độ: Tốt – Giác mạc biểu mô hoàn toàn, hết dấu hiệu nhiễm trùng; Trung bình – Giác mạc biểu mô hóa hoàn toàn, nhưng còn phù và còn thẩm lậu; Xấu - Ổ loét giác mạc không thay đổi hoặc nặng hơn.
Kết quả tốt và trung bình được coi là điều trị thành công, kết quả xấu được coi là điều trị thất bại. Tất cả các thông tin thu thập bằng hồ sơ nghiên cứu.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 51,4; người thấp nhất 21 và cao nhất 85 tuổi; nữ giới chiếm gần 67%. Nghề nghiệp nông dân chiếm hơn 68%, liên quan đến chấn thương trong lao động và sinh hoạt như lúa quệt vào mắt…
100% bệnh nhân có triệu chứng nhìn mờ, chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác vướng, cộm ở mắt. Có 97,1% trường hợp có thêm triệu chứng đau nhức mắt.
Thị lực lúc vào viện: 18 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ 51,4%) có thị lực kém từ ST (+) đến < 20/400, 6 bệnh nhân có thị lực 20/400 đến < 20/80 và 4 có bệnh nhân thị lực 20/80 đến < 20/30.
Mức độ tổn thương: 17 trường hợp nhẹ chiếm tỷ lệ 48,6% và 18 trường hợp ở mức độ trung bình chiếm tỷ lệ 51,4%. Trong đó có tới 15 trường hợp (42,8%) tổn thương mức độ trung bình và ổ loét nằm ở trung tâm giác mạc.
Ổ loét trung tâm chiếm hơn 51%, trong đó mức độ bệnh trung bình chiếm tỷ lệ cao là 15 mắt (83,3%). Ở nhóm bệnh có ổ loét ở cạnh trung tâm và rìa giác mạc thì mức độ nhẹ cao hơn mức trung bình.
Kết quả cận lâm sàng: soi tươi chất nạo bờ ổ loét cho kết quả vi khuẩn (+) và (++) chiếm 60%. Soi nhuộm gram cho kết quả tác nhân gây bệnh là vi khuẩn, trong đó cầu khuẩn Gr (+) 12 trường hợp (34,2%), cầu khuẩn và trực khuẩn Gr (+) 15 trường hợp (42,9%), cầu khuẩn Gr (+) và trực khuẩn Gr (-) 5 trường hợp (14,3%).
Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền, đánh giá kết quả điều trị cho thấy 16 bệnh nhân ở mức độ nhẹ đạt kết quả tốt, 1 bệnh nhân đạt kết quả trung bình. Ở nhóm bệnh nhân trung bình có 5 bệnh nhân đạt kết quả tốt, 13 bệnh nhân đạt kết quả trung bình. Không có kết quả xấu ở cả 2 nhóm. Sự khác biệt về kết quả điều trị ở hai nhóm bệnh (tốt, trung bình) là có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Điều này đồng nghĩa với việc: nếu bệnh nhân đến sớm, được chẩn đoán và điều trị kịp thời thì kết quả tốt là chủ yếu, nếu bệnh nhân đến muộn hoặc đã điều trị kéo dài ở tuyến dưới thì kết quả điều trị bị hạn chế.
Kết quả điều trị theo loại vi khuẩn: Trong số các vi khuẩn nuôi cấy được, tỷ lệ đạt kết quả tốt ở nhóm bệnh nhân có tác nhân gây bệnh là Staphylococcus epidermidis gồm 13 bệnh nhân (76,5%) đạt kết quả tốt và 4 bệnh nhân (23,5%) đạt kết quả trung bình. Đạt được kết quả này là do Besivance 0,6% là một fluoroquinolon thế hệ IV, có tác dụng tốt hơn những kháng sinh quinolon các thế hệ trước chống lại vi khuẩn Gr (+) và đồng thời vẫn duy trì hiệu quả đối với vi khuẩn Gr (-) và vi khuẩn không điển hình. Mặt khác theo Solomon nồng độ thấm vào thủy dịch cũng như kết mạc cao hơn nhiều so với các loại kháng sinh khác.
Về yếu tố ảnh hưởng của mức độ bệnh đến kết quả điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm có bệnh cảnh lâm sàng nhẹ, thời gian điều trị trung bình là 9,8 ± 3,2 ngày. Ở nhóm có bệnh cảnh lâm sàng trung bình, thời gian điều trị trung bình là 12,8 ± 5,6 ngày. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
BS. Nguyễn Thị Thu Hiền có kết luận, dung dịch Bensifloxacin 0,6% cho hiệu quả cao trong điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn đặc biệt vi khuẩn Gr (+) (tỷ lệ thành công là 60% đạt kết quả tốt, 40% đạt kết quả trung bình, không có kết quả xấu). Đối với mức độ bệnh nhẹ và trung bình chỉ cần dùng dung dịch dưới hình thức tra tại chỗ.
Huy Hoàng
Chi tiết
Các tin khác
26/10/2016:
Phát hiện chẩn đoán bệnh nhân u máu thể hang trên lều
25/10/2016:
Chất lượng cuộc sống người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị ARV
24/10/2016:
Chụp mạch cộng hưởng từ chẩn đoán dị dạng động tĩnh mạch não
24/10/2016:
Tình hình nhiễm giun truyền qua đất tại tỉnh Khánh Hòa
24/10/2016:
Đánh giá độ nặng của cơn hen cấp
24/10/2016:
Kết quả xét nghiệm trong điều trị vàng da tăng Bilirubin ở trẻ sơ sinh
20/10/2016:
Nhận xét đặc điểm lâm sàng bệnh nhân lọc màng bụng
17/10/2016:
Sự khác biệt về giới khi sử dụng dịch vụ y tế
16/10/2016:
Nghiên cứu chỉ số độ cứng động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp
16/10/2016:
Khảo sát nồng độ glucagon huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
223
Số lượt truy cập:
9360982
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa