Viêm dạ dày mạn tính là bệnh phổ biến, tỷ lệ nhiều nghiên cứu 50% dân số mắc bệnh. Theo các chuyên gia tiêu hóa, có nhiều phương pháp chẩn đoán bệnh lý dạ dày tá tràng, trong đó nội soi đóng vai trò quan trọng nhất.
Hiện nay các Trung tâm nội soi tiêu hóa ở Việt Nam đang đánh giá kết quả dựa theo hướng dẫn của hệ thống phân loại Sydney 1990, hoàn thiện vào năm 1994. Tuy nhiên sau 20 năm áp dụng, hệ thống phân loại này bộc lộ nhiều bất cập, không giúp bác sĩ lâm sàng nhận ra người bệnh có nguy cơ ung thư dạ dày để có kế hoạch theo dõi và điều trị phòng ngừa. Một nhóm các nhà bệnh lý học trên thế giới, đề xuất một hệ thống phân chia các giai đoạn của viêm dạ dày gọi là hệ thống phân loại OLGA, viết tắt của Operative Link for Gastrictis Asessent. Hệ thống phân loại OLGA sắp xếp các tổn thương của tế bào niêm mạc dạ dày theo bậc thang tăng dần nguy cơ mắc ung thư, từ mức độ thấp nhất là giai đoạn 0 đến cao nhất là giai đoạn 4.

Trong năm 2012, nhóm tác giả nghiên cứu Đậu Xuân Cảnh cùng cộng sự Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm nội soi, mô bệnh học của viêm dạ dày mạn theo phân loại của OLGA”. Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân viêm dạ dày mạn được khám, thực hiện nội soi dạ dày tá tràng tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh Học viện Y Dược học Cổ truyền trong tháng 3-4/2012. Các đối tượng nghiên cứu được sinh thiết và làm test urease; tổng cộng có 89 bệnh nhân được mời chọn tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 45,5. Độ tuổi gặp nhiều nhất là 40-49 tuổi với tỷ lệ 38,2%. Nghiên cứu cũng cho kết quả có mối liên quan giữa yếu tố tuổi và bệnh viêm dạ dày mạn tính. Tỷ lệ viêm dạ dày tăng dần theo tuổi (p < 0,05). BS. Cảnh cho biết, khi thực hiện đối chiếu độ tuổi của người bệnh với giai đoạn viêm dạ dày mạn theo phân loại của OLGA; kết quả cho thấy độ tuổi và giai đoạn viêm dạ dày mạn có mối liên quan thuận (p < 0,05) và viêm dạ dày mạn giai đoạn OLGA 3 có 04 bệnh nhân chỉ gặp ở những bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên.
Về giới tính đối tượng nghiên cứu, có 46 nam (51,7%) và 43 nữ (48,3%). Mối liên quan giữa giới tính và viêm dạ dày mạn theo phân loại OLGA độ 1,2,3 không có sự khác biệt.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, theo cách phân loại hệ thống Sydney, nhóm nghiên cứu phân biệt hình ảnh và vị trí tổn thương trong nội soi dạ dày tại hang vị hay thân vị hoặc cả hai vị trí trên. Những hình ảnh nội soi của viêm dạ dày mạn thường đa dạng và hay kết hợp với nhau. Trong kết quả nghiên cứu cho thấy hình ảnh nội soi tại hang vị có 100% đối tượng nghiên cứu có viêm hang vị ở các mức độ. Trung đó hình ảnh viêm trợt phẳng chiếm tỷ lệ cao nhất với 76,4%; những hình ảnh ít gặp có tỷ lệ thấp hơn là viêm xung huyết, viêm xuất huyết, viêm trợt lồi, viêm phì đại, viêm trào ngược dịch mật, viêm teo.
BS. Cảnh cho biết hình ảnh nội soi cho thấy các nếp niêm mạc thân vị bình thường chiếm tỷ lệ gần 80%, tổn thương tại thân vị nghèo nàn, gặp 18 trường hợp (chiếm tỷ lệ 20,2%). Hình ảnh tổn thương thân vị thường gặp là viêm xuất huyết, viêm teo. Hình ảnh viêm phì đại và viêm teo chỉ gặp ở giai đoạn OLGA 3. Viêm thân vị trên nội soi chỉ gặp ở giai đoạn OLGA 2 và 3.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, tỷ lệ hình ảnh nội soi thấy tổn thương viêm dạ dày trong từng nghiên cứu còn khác nhau, phụ thuộc vào cách chọn mẫu bệnh nhân, điều kiện trang thiết bị, kỹ thuật, kinh nghiệm, thói quen của bác sĩ nội soi và đặc điểm bệnh viêm dạ dày mạn.
Đối với đặc điểm mô bệnh học, tỷ lệ viêm mạn tính ở hang vị và góc bờ cong nhỏ là 100% đối tượng nghiên cứu; còn ở thân vị có tỷ lệ là 80,9%. Cụ thể tại niêm mạc hang vị, tỷ lệ mức độ viêm mạn tính nặng, nhẹ, vừa lần lượt là 39%, 32% và 28%. Ở vị trí góc bờ cong nhỏ, tỷ lệ mức độ viêm mạn tính nặng là 28%, vừa là 54% và nhẹ là 18%. Đối với niêm mạc thân vị, tỷ lệ mức độ viêm mạn tính nặng là 4,5%; vừa là 22,5% và nhẹ là 54%.
Đối với viêm teo niêm mạc hang vị, góc bờ cong nhỏ có tỷ lệ rất cao 81%; trong khi tỷ lệ bệnh nhân có niêm mạc teo tại thân vị thấp với tỷ lệ 7,8%. Đối với dị sản một và loạn sản, BS.Cảnh ghi nhận loạn sản chỉ gặp ở giai đoạn OLGA 2 và 3. Như vậy về hình ảnh mô bệnh học, tỷ lệ dị sản ruột tăng theo sự phân chia giai đoạn OLGA; giai đoạn 1 là 17%, giai đoạn 2 là 46% và giai đoạn 3 là 75%. Tác giả lưu ý, sự phân tích đặc điểm lâm sàng, đặc điểm hình ảnh dạ dày trên nội soi theo phân loại OLGA góp phần phát hiện sớm và điều trị các bệnh lý dạ dày, trong đó có bệnh ung thư dạ dày.
Ngô Thanh