[Đăng ngày: 21/12/2017]
Ung thư vú là loại ung thư phổ biến thứ hai trên thế giới chỉ sau ung thư phổi. Vấn đề cần chú ý, nếu được phát hiện sớm ung thư vú hoàn toàn có thể chữa khỏi. Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của GS. Nguyễn Chấn Hùng, GS.Nguyễn Bá Đức năm 2010, tỷ lệ mắc ung thư vú theo tuổi là 29,9/100.000 và chủ yếu gặp ở lứa tuổi dưới 50.

Phương pháp tự khám vú hàng tháng sau sạch kinh hoặc khám định kỳ vú 6 tháng 1 lần tại các cơ sở y tế đã được khuyến khích thực hiện để phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm và làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú. Biện pháp chụp X-quang tuyến vú và xét nghiệm tế bào học là phương pháp rất có giá trị để chẩn đoán, có thể giúp phát hiện sớm khối u vú khi phát hiện trên lâm sàng. Các biện pháp này rất tốt đối với tầm soát bệnh ở phụ nữ độ tuổi ngoài 40, tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú, dậy thì sớm, mãn kinh muộn, tiền sử sử dụng thuốc tránh thai, chiếu xạ vào ngực. Việc khám sàng lọc định kỳ rất quan trọng để phát hiện sớm các tổn thương ở vú. Các khối u vú lành tính thường gặp là u xơ tuyến vú (chiếm 50%); loạn sản lành tính tuyến vú (chiếm 13%); tổn thương ác tính ung thư tuyến vú chiếm khoảng 10% trường hợp. Một báo cáo của Bệnh viện Bạch Mai năm 2015, kết quả khám sàng lọc ung thư vú trên 1.600 phụ nữ độ tuổi trên 40; có 17,7% trường hợp có bất thường vùng vú; trong độ tuổi 40-59 là chủ yếu. Trong các trường hợp phát hiện có u vú, có 1,8% trường hợp là ung thư vú.

Từ tháng 10-11/2016, nhóm nghiên cứu Phạm Cẩm Phương cùng cộng sự Trung tâm  Y học Hạt nhân và Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hàng nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 768 phụ nữ trên 40 tuổi tại TP Hà Nội và các tỉnh lân cận được tư vấn, khám sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả tư vấn, khám sàng lọc và phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ”.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 57 trường hợp, chiếm 34% có ý thức tự khám vú hàng tháng; với tỷ lệ thấp do vậy chỉ ra lý do phần lớn ung thư vú ở Việt Nam chỉ phát hiện được khi đã ở giai đoạn muộn. Trong tổng số 166 trường hợp có bất thường, phát hiện được 05 trường hợp ung thư vú (3%). Các trường hợp phát hiện ung thư vú đều ở giai đoạn 1, đây là giai đoạn sớm có khả năng điều trị khỏi hoàn toàn. Thông qua chương trình, các bác sĩ tham gia nhóm nghiên cứu đã tư vấn, hướng dẫn cách tự khám vú hàng tháng thường xuyên và đúng cách cho các đối tượng tham gia nghiên cứu. Tác giả nghiên cứu khuyến nghị nên tổ chức nhiều hoạt động khám sàng lọc ung thư vú cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đặc biệt là những phụ nữ trên 40 tuổi và những phụ nữ có nguy cơ cao; lồng ghép vào đó là những buổi truyền thông, tư vấn về việc tự khám vú hàng tháng cho phụ nữ để phòng ngừa, phát hiện sớm ung thư vú, nâng cao tỷ lệ, chất lượng trong quá trình phát hiện và điều trị ung thư vú.
Theo GS.Nguyễn Chấn Hùng- Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, phụ nữ gần 30 tuổi, sờ nắm vú thấy có một cục không đau hoặc hơi đau thì nên đi khám ngay. Thấy một cục bằng ngón tay út, để lớn thành trái quýt vì tưởng là trái chàm, không đau, ăn ngủ bình thường là trễ rồi. Thường bệnh hay gặp ở độ tuổi 35-50.

Lúc ban đầu ung thư im lìm, cần lưu ý là có một cục hoặc một chỗ dày trong vú. Có sự thay đổi hình dáng của vú. Da vú xù xì như da cam. Ngứa quầng vú, núm vú ứa dịch đỏ, núm vú thụt vào; một cục ở nách. Bác sĩ sẽ khám, siêu âm và chụp nhũ ảnh để chẩn đoán. Nhũ ảnh là chụp hình vú bằng X-quang. Siêu âm hướng dẫn kim nhỏ chọc hút thử tế bào để chẩn đoán. Những phụ nữ có mẹ, chị em ruột bị ung thư vú, phụ nữ mang đột biến gen BRCA1, BRCA2, dùng liệu pháp hormon thay thế sau mãn kinh, độc thân, có con sau 30 tuổi cần chú ý hơn.

GS.Hùng cho biết, bác sĩ sẽ cân nhắc nhiều yếu tố khác nhau như ung thư loại gì, kích thước cỡ nào, giai đoạn mấy, tế bào ung thư grad cao hay thấp, người bệnh mãn kinh chưa và sức khỏe chung của người bệnh để có liệu pháp điều trị. Phẫu thuật đoạn nhũ là lấy trọn tuyến vú, nhiều hạch nách cùng bên vú. Có thể tái tạo tuyến vú sau mổ. Có thể dùng liệu pháp bảo tồn vú với các bướu nhỏ. Bác sĩ sẽ lấy khối bưới và một viền an toàn mô lành xung quanh, kết hợp với xạ trị ngay sau mổ.

Xạ trị phát chùm tia đúng vào tuyến vú, dùng sau mổ trong liệu pháp bảo tồn vú. Xạ trị hỗ trợ sau mổ được dùng bổ sung cho các khối bướu lớn của vú hoặc có hạch di căn. Hóa trị cũng dùng điều trị ung thư đã lan tràn trong cơ thể. Tác dụng phụ thường gặp của hóa trị là rụng lông tóc, nôn mửa, mệt mỏi, dễ nhiễm trùng.

Liệu pháp nội tiết để điều trị các ung thư nhạy với hormon, bác sĩ chia ung thư có thụ thể nội tiết gồm thụ thể estrogen dương (ER+); thụ thể progesteron dương (PR+) hoặc gồm ER (-); PR (-). Có các thuốc sử dụng cho phụ nữ mãn kinh, thụ thể nội tiết dương. Có khoảng 25% phụ nữ ung thư vú có đột biến gen HER2, sử dụng  liệu pháp nhắm trúng đích. Cần phải biết bệnh ở giai đoạn phẫu thuật sớm để bác sĩ điều trị bảo tồn vú, điều trị đúng và ung thư vú không còn là bệnh nan y.
Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 381

Số lượt truy cập: 9357038

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang