[Đăng ngày: 26/12/2017]
Bệnh loãng xương và các biến chứng của loãng xương đang được coi là một bệnh dịch “âm thầm” lan rộng khắp thế giới.

Bệnh loãng xương ngày càng gia tăng và trở thành gánh nặng cho y tế cộng đồng. Tổ chức Y tế thế giới báo cáo trên thế giới có 10 triệu người mắc bệnh loãng xương hàng năm, chi phí khám điều trị hơn 17 tỷ USD/năm. Các chuyên gia cơ xương khớp cho rằng loãng xương có thể gây ra những biến chứng thường gặp như xẹp đốt sống, gù cột sống, gãy cổ xương đùi, gãy xương chi trên, nhiễm trùng phổi, tiết niệu, viêm tắc tĩnh mạch; cuối cùng là tử vong. Hiện nay, y học có nhiều tiến bộ đối với điều trị bệnh loãng xương và biến chứng của nó.

Từ tháng 5/2012 đến tháng 5/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Đinh Ngọc Sơn cùng cộng sự Bệnh viện Hữu Nghị - Việt Đức tiến hành nghiên cứu đa trung tâm báo cáo đề tài “Các yếu tố nguy cơ, các phương pháp điều trị loãng xương và biến chứng của loãng xương trên người Việt Nam”.

Tác giả nghiên cứu cho biết, nghiên cứu được tiến hành ở những cơ sở y tế lớn trong cả nước gồm Bệnh viện Việt Đức, Đại học Y Hà Nội, Viện Lão khoa Trung ương, Học viện Quân Y 103, Viện Chấn thương Chỉnh hình TP Hồ Chí Minh. Đây là nghiên cứu thiết kế bệnh chứng, tiến cứu. Có 1400 đối tượng nghiên cứu gồm 424 nam, 988 nữ tham gia. Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm bệnh là nam giới > 60 tuổi, phụ nữ > 50 tuổi có chỉ số đo mật độ xương T-Score < -2,5. Nhóm chứng là nam giới > 60 tuổi, phụ nữ > 50 tuổi có chỉ số đo mật độ xương T-Score > -1,0. Đối với các yếu tố nguy cơ gồm tiền sử gãy xương, người thân gia đình có tiền sử gãy xương; mãn kinh trước tuổi 45, hút thuốc, chế độ ăn thiếu canxi, nghiện rượu, nằm liệt giường do bệnh lý.

Đối với nghiên cứu thuốc điều trị nội khoa bệnh nhân loãng xương, gồm 90 bệnh nhân được chẩn đoán loãng xương tiên phát; mật độ xương có T-Score < -2,5 hoặc đã có tiền sử gãy xương. Bao gồm 80 bệnh nhân nữ, 10 bệnh nhân nam. Nhóm 1 có 50 bệnh nhân nữ, 10 bệnh nhân nam; điều trị bằng Aledronate 70mg, 1viên/tuần liên tục trong 1 năm. Nhóm 2 có 30 bệnh nhân nữ, điều trị bằng Strontium ranelate 2g, 1gói/ngày liên tục 1 năm.

Tiêu chí đánh giá sau 1 năm: Sự thay đổi mật độ xương, tỉ lệ gãy xương mới, chỉ số khối cơ thể BMI, mức độ cải thiện đau theo VAS; sự thay đổi chỉ số sinh hóa, tác dụng phụ của thuốc.

Tác giả nghiên cứu cho biết, đối với nghiên cứu phẫu thuật điều trị biến chứng xẹp đốt sống do loãng xương; tiến hành có 120 bệnh nhân được xác định là xẹp đốt sống do loãng xương. Đau dai dẳng tại đốt sống bị xẹp; điều trị nội khoa sau 4 tuần không đáp ứng, có thể có yếu tố chấn thương kèm theo. Trên phim X-quang xẹp đốt sống ngực – thắt lưng; T-Score < -2,5; phim MRI có hình ảnh phù nề đốt sống tương ứng. Nhóm nghiên cứu tiến hành tạo hình đốt sống bằng bơm cement không bóng (30 bệnh nhân); có bóng (30 bệnh nhân): không có biểu hiện tổn thương thần kinh, xẹp đốt sống nhẹ ít hơn 66% chiều cao thân đốt sống; CT-Scanner cột sống vững, không có mãnh xương chèn ép ống tủy. Bơm cement có bóng được chỉ định 15 ngày đầu sau chấn thương. Cố định cột sống với hệ thống vít 30 bệnh nhân; cố định cột sống với bắt vít bơm cement qua cuống 30 bệnh nhân.

Đối với nghiên cứu đánh giá phẫu thuật điều trị biến chứng gãy cổ xương đùi do loãng xương bằng thay khớp háng nhân tạo có cement. Có 30 bệnh nhân trên 60 tuổi tham gia nghiên cứu; có T-Score < -2,5; bệnh nhân gãy cổ xương đùi do chấn thương mới, trong vòng 1 tuần sau chấn thương; gãy cổ xương đùi đã có biến chứng không liền hoặc tiêu chỏm, gãy cổ xương đùi đã mổ kết hợp xương nhưng thất bại.

BS Sơn báo cáo, tỉ lệ bệnh nhân nữ bị loãng xương là gần 70% cao hơn gấp đôi so với nam giới. Qua kết quả nghiên cứu 1400 đối tượng, phát hiện một số yếu tố nguy cơ chính gây loãng xương khác biệt giữa nam và nữ; cụ thể đối với nam ở nhóm tuổi > 70, chiều cao < 160 cm; cân nặng < 60kg; BMI < 18,5 có nguy cơ loãng xương cao hơn 1,69 đến 4,4 lần. Đối với nhóm nam tuổi < 70; chiều cao > 160 cm; cân nặng > 60kg; BMI > 18,5. Đối với nhóm nữ, nhóm tuổi > 70; chiều cao < 142 cm; cân nặng < 42 kg; BMI < 18,5 có nguy cơ loãng xương cao hơn từ 4,14 đến 9,4 lần đối với nữ có tuổi < 70; chiều cao > 142 cm; cân nặng > 42 kg; BMI > 18,5.

Những người có uống rượu, hút thuốc lá nguy cơ loãng xương cao hơn 2 lần so với nhóm không sử dụng rượu, thuốc lá. Nhóm phụ nữ có kinh muộn sau 16 tuổi, mãn kinh sớm trước 45 tuổi, tuổi > 50; sinh con > 5 lần có nguy cơ loãng xương cao hơn so với nhóm đối tượng không có tình trạng trên với OR từ 1,6 đến 16,7 lần.

Về thuốc điều trị, 90 bệnh nhân có hiệu quả sau 12 tháng, kết quả giảm đau theo thang điểm VAS cải thiện rõ rệt. Không có sự khác biệt giữa Alendronate và Stontium ranelate. Về tác dụng phụ, có tỉ lệ như người bệnh buồn nôn, trào ngược, tiêu chảy, ban ngứa, đau đầu.

Đối với phương pháp phẫu thuật trên 120 bệnh nhân bị biến chứng xẹp đốt sống, kết quả hiệu quả trong việc giảm đau cho bệnh nhân. Kết quả tốt đạt trên 85%; không có ca nào kết quả xấu. Trong số 30 bệnh nhân thay khớp háng điều trị biến chứng gãy cổ xương đùi do loãng xương, có 18 bệnh nhân được thay bằng khớp háng toàn phần có ximăng; 12 bệnh nhân thay bán phần có ximăng. Những bệnh nhân thay khớp háng toàn phần đa số hõm khớp đặt đúng vị trí (94,4%). Sau 6 tháng theo dõi, 83% bệnh nhân có mức độ không đau khớp háng; 16,7% đau ít. Tỉ lệ bệnh nhân đi lại không cần dụng cụ hỗ trợ là 76%, số bệnh nhân còn lại chỉ cần hỗ trợ 1 gậy. Bệnh nhân đạt biên độ vận động khớp háng mức 5 điểm tỉ lệ trên 70%. Số bệnh nhân đạt kết quả sau mổ tốt là 93,3%. Không có trường hợp nào nhiễm trùng, tử vong sau mổ, phương pháp phẫu thuật an toàn, cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân rõ rệt.
Huy Hoàng

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 375

Số lượt truy cập: 9357032

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang