[Đăng ngày: 29/12/2017]
Dị vật hữu cơ phế quản để chỉ các trường hợp dị vật có bản chất hữu cơ, hợp chất có liên kết carbon-hydro, rơi vào và mắc lại tại phế quản gồm phế quản gốc hoặc phế quản phân thùy.

Theo các chuyên gia tai mũi họng, các loại dị vật hữu cơ phế quản thường là xương, vỏ tôm, cá; các loại hạt mãng cầu, đậu phụng, hồng xiêm, hạt dưa. Đây là một cấp cứu tai mũi họng thường gặp ở trẻ em, đòi hỏi phải xử trí kịp thời, nếu không có thể dẫn đến tử vong. Ở Việt Nam, dị vật hữu cơ phế quản thường gặp và có liên quan đến tập quán ăn uống. Khi xảy ra dị vật hữu cơ phế quản, ngoài tình trạng khó thở, ngạt thở nguy hiểm ảnh hưởng đến tính mạng, dị vật có thể gây ra tình trạng viêm dễ nhầm với viêm đường hô hấp, làm cho việc chẩn đoán, điều trị gặp nhiều khó khăn.

Từ tháng 10/2011 đến tháng 10/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đậu Xuân Cảnh cùng cộng sự Học Viện Y học cổ truyền Việt Nam tiến hành nghiên cứu mô tả từng trường hợp, báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng dị vật hữu cơ phế quản”. Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân mắc dị vật hữu cơ phế quản tại Bệnh viện Tuệ Tĩnh; có 54 bệnh nhân phù hợp tiêu chuẩn nghiên cứu. Trong đó 38 người là nam, 16 là bệnh nhân nữ. Tuổi từ 1 – 3 tuổi có 45 bệnh nhân chiếm 83,3%; nhóm 4 – 6 tuổi 1 bệnh nhân và nhóm trên 6 tuổi có 8 bệnh nhân (14,8%). Tác giả nghiên cứu cho rằng các em nhỏ thường có thói quen, phản xạ là đưa bất cứ thứ gì mà các em cần nắm được cho vào miệng, do mọc răng gây ngứa răng hoặc có trường hợp đi tìm hiểu thế giới xung quanh mình. Đối với trẻ trai thường hiếu động, nghịch ngợm hơn bé gái, dễ đưa vào miệng những vật dụng lạ do vậy trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái.

Ngoài ra nhóm trẻ này hiếu động, được cho ăn các loại quả, hạt có nguy cơ cao. Bên cạnh đó, phản xạ họng – thanh quản ở lứa tuổi này chưa được hoàn chỉnh và thuần thục, cùng với gia đình chủ quan, thiếu chăm sóc khi cho trẻ ăn, trẻ chơi.

 BS Đậu Xuân Cảnh báo cáo, về đặc điểm của dị vật hữu cơ phế quản, có 81,5% dị vật có nguồn gốc từ thực vật, đây là loại dị vật hay gặp và chiếm tỉ lệ cao trong các nghiên cứu của các tác giả trong ngoài nước đã được báo cáo. Về vị trí dị vật, kết quả trong nghiên cứu có 55,6% dị vật nằm ở phế quản bên phải; 7,4% dị vật nằm ở cả 2 bên phế quản. Tỉ lệ bên phải cao do phế quản phải có khẩu độ to hơn, chếch hơn phế quản trái, do đó dị vật dễ rơi vào phế quản này hơn.

Kết quả nghiên cứu báo cáo về hội chứng xâm nhập có 96,3% bệnh nhân có hội chứng này rõ ràng; ở cả 2 nhóm nam và nữ tương đương nhau. Tác giả lưu ý đây là hội chứng quan trọng để chẩn đoán dị vật đường thở, nên khi bệnh nhân có hội chứng xâm nhập cần nghĩ ngay đến có dị vật. Về triệu chứng cơ năng, có 63% đối tượng nghiên cứu xuất hiện ho, 55% có khó thở, 3,7% bệnh nhân đau ngực.

Tác giả lưu ý cần thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng để đưa ra chẩn đoán xác định về bệnh. Đối với dị vật phế quản rất cần thiết vì triệu chứng dễ nhầm với các bệnh lý khác ở đường hô hấp. Trong nghiên cứu, 34 bệnh nhân được chụp x-quang lồng ngực có 67,4% không thấy có dấu hiệu bất thường, có 2,9% xác định được dị vật cản quang. Còn lại có bệnh lý khác như viêm phế quản 11,8%; xẹp phổi 8,8%; khí phế thũng 8,8%.

Các bác sĩ tai mũi họng lưu ý, trong hỏi bệnh dị vật đường thở cần hỏi hoàn cảnh xảy ra, loại dị vật, hội chứng xâm nhập. Khám lâm sàng mức độ khó thở như ngừng thở, hôn mê, tái tím; khó thở vào không, sử dụng cơ hô hấp phụ; nghe phế âm phổi 2 bên. Chụp x-quang phổi tìm dị vật cản quang, xẹp phổi; Nội soi khí phế quản tất cả các trường hợp có hội chứng xâm nhập. Chẩn đoán nghi ngờ khi đột ngột trẻ đang chơi với hạt hoặc vật nhỏ hoặc đang ăn, bú; lâm sàng có hội chứng xâm nhập hoặc khó thở thanh quản. Chẩn đoán xác định gồm hội chứng xâm nhập; nội soi tìm thấy dị vật trong lòng khí phế quản. Nguyên tắc điều trị là lấy dị vật, hỗ trợ hô hấp, điều trị các biến chứng.

Trong xử trí ban đầu, nếu trẻ không khó thở hoặc khó thở nhẹ, không can thiệp vì sẽ làm di chuyển dị vật làm trẻ ngừng thở đột ngột; cần theo dõi hoặc chuyển đến chuyên khoa tai mũi họng, tốt nhất để trẻ ở tư thế ngồi hoặc mẹ bồng. Nếu trẻ ngừng thở, khó thở nặng, tái tím, vật vã hôn mê cần cấp cứu ngay – lưu ý không móc dị vật bằng tay. Đối với trẻ lớn dùng thủ thuật Heimlich; đối với trẻ sơ sinh, nhũ nhi dùng phương pháp vỗ lưng ấn ngực. Đối với soi gắp dị vật có chỉ định khi trường hợp có hội chứng xâm nhập. Về theo dõi cần theo dõi độ khó thở bệnh nhân, biến chứng sau soi như tràn khí dưới da, tràn khí trung thất. Bệnh nhân thường được ra viện 1-2 ngày sau khi các triệu chứng đã ổn. Bệnh nhân tái khám mỗi tuần cho đến khi ổn định.     
Huy Hoàng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 388

Số lượt truy cập: 9356930

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang