{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Chất lượng cuộc sống bệnh nhân HIV/AIDS
[Đăng ngày: 25/11/2016]
Theo UNAIDS, dịch HIV/AIDS xuất hiện từ đầu năm 1980 sau đó nhanh chóng lan ra toàn thế giới. Tính đến năm 2014, trên thế giới có khoảng 80 triệu người đã nhiễm HIV và khoảng 40 triệu người đã chết vì HIV. Cho đến tháng 6 năm 2015, đã có 15,8 triệu người sống chung với HIV được tiếp cận điều trị kháng vi rút. Mặc dù vậy, sự gia tăng đáng báo động về tỷ lệ người nhiễm HIV, khả năng tiếp cận và sẵn có của điều trị kháng retrovirus ARV còn hạn chế nên nhiều bệnh nhân nhiễm HIV vẫn chưa được tiếp cận sớm với điều trị.
Với những tiến bộ gần đây trong các thử nghiệm lâm sàng và điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV, sự sống còn của những bệnh nhân HIV/AIDS đã được tăng lên rõ rệt, chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân HIV/AIDS đã trở thành trọng tâm quan trọng đối với các nhà nghiên cứu và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, nhiều người trong số các bệnh nhân HIV vẫn phải vật lộn với các vấn đề xã hội như kỳ thị, nghèo đói, trầm cảm, lạm dụng chất gây nghiện và văn hóa tín ngưỡng, điều đó có thể làm ảnh hưởng đến CLCS của họ cả về sức khỏe thể chất lẫn sức khỏe tâm thần, xã hội. Do vậy, xác định các yếu tố tác động đến CLCS ở bệnh nhân HIV/AIDS là thực sự cần thiết và quan trọng để ước tính gánh nặng bệnh tật. Một số yếu tố liên quan đến CLCS ở những người bệnh nhiễm HIV đã được báo cáo trong y văn thế giới, chủ yếu thuộc bốn nhóm lĩnh vực: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, khía cạnh xã hội và môi trường.
Từ tháng 1-4/2016, nhóm tác giả Lã Thị Nguyệt Minh cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung ương tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhận xét một số khía cạnh chất lượng cuộc sống bệnh nhân HIV/AIDS điều trị nội trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung ương năm 2016”. Cho đến nay, Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Đối tượng nghiên cứu gồm 70 bệnh nhân nhiễm HIV điều trị nội trú tại Khoa vi rút- Ký sinh trùng Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới Trung ương. Đây là nghiên cứu cắt ngang, bộ công cụ được sử dụng để đo lường chất lượng cuộc sống của bệnh nhân dựa trên bộ câu hỏi WHOQOL- BREF, EQ-5D-5L, thang đo 15 D có chỉnh sửa để phù hợp với điều kiện nghiên cứu lâm sàng.
Công cụ thu thập thông tin là bộ câu hỏi cấu trúc gồm 3 phần: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới tính, nơi ở, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, khả năng tài chính, lý do nhiễm HIV); đặc điểm lâm sàng (bệnh lý được chẩn đoán, điều trị của lần nằm viện này, số lượng CD4, thời gian điều trị ARV); điểm chất lượng cuộc sống (sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, khía cạnh xã hội và nguồn lực). Bộ câu hỏi gồm 16 câu đo lường lĩnh vực: thể chất (các khía cạnh như di chuyển, công việc hàng ngày, cảm giác đau, giấc ngủ, chán ăn); tâm thần (căng thẳng, lo lắng, buồn chán, nản lòng, cảm giác đau khổ, tội lỗi); xã hội (kỳ thị và phân biệt đối xử, yêu cầu nghỉ việc, mong muốn tham gia câu lạc bộ, tổ chức dành cho người nhiễm HIV); nguồn lực (kinh tế bản thân, dịch vụ y tế hỗ trợ, chăm sóc từ người thân). Số liệu được nhóm nghiên cứu thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp qua bộ câu hỏi.
Tính tổng điểm của từng bệnh nhân trong từng lĩnh vực về sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, xã hội, nguồn lực; sau đó quy đổi điểm tổng cộng của các lĩnh vực nghiên cứu để đánh giá CLCS chung của bệnh nhân về thang điểm 0-100.
Theo phân tích của tác giả Lã Thị Nguyệt Minh, tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm 72,9%, tỷ lệ bệnh nhân có công việc không ổn định chiếm cao nhất (64,3%), chủ yếu bệnh nhân kết hôn, tái hôn có tỷ lệ 78,6%. Đường lây truyền HIV qua quan hệ tình dục chiếm 31%. Phân tích đặc điểm lâm sàng cho thấy bệnh lý được chẩn đoán điều trị tại thời điểm nghiên cứu của các bệnh nhân cao nhất là viêm gan B, C hoặc đồng nhiễm (24,3%), bệnh nhân chủ yếu ở tình trạng suy giảm miễn dịch nặng, số lượng CD4 < 200 TB/mm3 (75,7%) và số bệnh nhân chưa điều trị ARV bao giờ chiếm 44,3%. Cũng theo tác giả nghiên cứu,nghiên cứu này nhằm nhận xét một số khía cạnh CLCS bệnh nhân HIV/AIDS điều trị nội trú; kết quả cho thấy bệnh nhân nam có sức khỏe thể chất và nguồn lực cao hơn nữ giới. Tuy vậy, các bệnh nhân nữ lại có điểm sức khỏe tâm thần và khía cạnh xã hội cao hơn các bệnh nhân nam. Qua phỏng vấn các bệnh nhân nữ, đa số lây bệnh từ chồng nên nhận được sự thông cảm của mọi người, do vậy mà điểm sức khỏe tâm thần có xu hướng cao hơn nam giới.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra nhóm tuổi từ 50 tuổi trở lên có điểm chất lượng sống về thể chất, khía cạnh xã hội và nguồn lực cao nhất trong các nhóm tuổi. Nhóm tuổi này đa phần đã ổn định cuộc sống gia đình và được gia đình hỗ trợ. Đối tượng nghiên cứu có mức độ suy giảm miễn dịch bình thường hoặc suy giảm không đáng kể có sức khỏe thể chất cao nhất (72,9 + 10,1 điểm) cao gấp 1,26 lần so với bệnh nhân suy giảm nặng (57,9 + 13,3 điểm). Hơn nữa, điểm trung bình về sức khỏe thể chất tăng cao dần theo thời gian điều trị ARV. Nhóm bệnh nhân điều trị ARV > 2 năm có điểm sức khỏe thể chất cao nhất; thấp nhất là nhóm điều trị từ 6-24 tháng. Việc điều trị thuốc kháng vi rút giúp bệnh nhân HIV/AIDS cải thiện về mặt vi rút học, miễn dịch học và triệu chứng lâm sàng. Lâm sàng cải thiện, sức khỏe thể chất tăng cao là tiền đề cho việc cải thiện sức khỏe tâm thần. Như vậy, đo lường chất lượng sống ở bệnh nhân HIV/AIDS là biện pháp quan trọng góp phần đánh giá hiệu quả của các can thiệp điều trị và các chương trình y tế. Từ đó giúp cho các nhà lâm sàng không những điều trị hết bệnh mà còn xây dựng các kế hoạch để hỗ trợ tốt hơn trong việc theo dõi và quản lý bệnh nhân HIV/AIDS.
Theo tác giả Lã Thị Nguyệt Minh, nghiên cứu có một số hạn chế như chưa xem xét đến các yếu tố khác của bệnh nhân như hành vi sức khỏe của bệnh nhân, các tác dụng phụ của thuốc, sự tuân thủ điều trị hay mức thu nhập của bệnh nhân. Đây là lĩnh vực cần quan tâm nghiên cứu để giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về bệnh nhân HIV/AIDS, từ đó có thể đề xuất thêm các biện pháp để có thể chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS tốt hơn nữa. Vì vậy, cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn đánh giá về mối liên quan giữa các yếu tố này và CLCS. Mặt khác, nghiên cứu này với cỡ mẫu còn nhỏ, do đó hạn chế đối với việc suy rộng ra kết quả cho toàn bộ những người mắc, nhiễm HIV.
Kết luận cho nghiên cứu, tác giả nhấn mạnh nhiễm HIV/AIDS có điểm chất lượng cuộc sống ở khía cạnh sức khỏe thể chất đạt mức cao nhất (60,9 + 13,3 điểm); thấp nhất là điểm CLCS ở khía cạnh nguồn lực (43,2 + 9,7 điểm). Ở nhóm bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng có điểm CLCS ở khía cạnh sức khỏe tâm thần thấp nhất (41,8 + 13,6 điểm), khía cạnh xã hội thấp nhất (46,7 + 13,2 điểm). Nhóm bệnh nhân điều trị ARV > 2 năm có điểm CLCS ở khía cạnh sức khỏe thể chất và nguồn lực cao hơn các nhóm còn lại.
Văn Hanh
Chi tiết
Các tin khác
24/11/2016:
Cải thiện sức nghe ở người cao tuổi
20/11/2016:
Tổn thương não do Toxoplasma Gondii ở bệnh nhân HIV/AIDS
18/11/2016:
Kiến thức – thái độ thực hành về điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS
15/11/2016:
Yếu tố ảnh hưởng đến duy trì điều trị Methadone
13/11/2016:
Viêm loét giác mạc – bệnh dịch thầm lặng
13/11/2016:
Phân loại bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue
10/11/2016:
Chẩn đoán bệnh lý ác tính ở trẻ em
06/11/2016:
Hiệu quả can thiệp truyền thông phòng chống sốt xuất huyết cho học sinh
04/11/2016:
Đo lường số năm sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật
03/11/2016:
Ứng dụng tế bào gốc trong mất đoạn xương
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
221
Số lượt truy cập:
9360914
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa