[Đăng ngày: 24/11/2016]
Đo sức nghe (ĐSN) là kỹ thuật cơ bản và quan trọng của chuyên ngành Tai Mũi Họng. ĐSN bằng đơn âm (thính lực âm – TLA), bằng lời nói chuẩn (thính lực lời – TLL) hay đo sức nghe khách quan. Các phương pháp trên bổ sung và phối hợp với nhau giúp chúng ta chẩn đoán được nghe kém mức độ chính xác cao, nguyên nhân nghe kém, vị trí tổn thương và kết quả điều trị.
Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Hằng cùng cộng sự Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội, Trường Đại học Y Hà Nội đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Đối chiếu thính lực âm và thính lực lời tiếng việt trên bệnh nhân nghe kém tuổi già”. Mục tiêu nghiên cứu là (1) so sánh ngưỡng nghe trung bình đơn âm (pure tone average – PTA) và ngưỡng nghe nhận lời (Speech reception threshold – SRT) qua bảng cầu thính lực lời (BCTLL) tiếng Việt. (2). Đối chiếu mức độ nghe kém và dạng biểu đồ thính lực lời trên bệnh nhân nghe kém tuổi già.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là tuổi từ 60 trở lên, nghe kém tăng dần, khó nghe trong môi trường ồn, có thể ù tai hay chóng mặt; khám TMH: màng nhĩ xơ dày, vôi hóa hay có vòng lão suy, không thủng; thính lực âm: nghe kém tiếp nhận 2 tai đối xứng. Phương tiện nghiên cứu ngoài máy đo thính lực đơn âm GSI, Sibelmed; máy đo thính lực lời Madsen; Nguồn âm mẫu: thực hiện thu âm bảng câu thử vào đĩa DVD do phát thanh viên chuyên nghiệp đọc và thu tại đài phát thanh quốc gia.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Thị Hằng, có 30 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, độ tuổi trung bình 72,5± 6,5. Tỷ lệ nam gặp nhiều hơn nữ. Trong đó, bệnh nhân đến có khi không phải vì nghe kém mà đến khám vì ù tai hay chóng mặt sở dĩ như vậy vì triệu chứng nghe kém trong nghe kém tuổi già diễn biến từ từ. Thính lực đồ là nghe kém tiếp nhận thể loa đạo đáy và thể toàn lao đạo, trong đó chủ yếu là thể loa đạo đáy chiếm tới 80% (20 tai).
Kết quả nghiên cứu cho thấy nghe kém nhẹ gặp 14 tai (23,3%), nghe kém vừa gặp 31 tai (51,67%), nghe kém nặng gặp 13 tai (21,67%), điếc gặp 2 tai (3,33%). Như vậy  nghe kém vừa và nặng chiếm tới 73,34%. Đây là đối tượng cần sử dụng máy trợ thính. Tuy vậy trong số đó chỉ có 3 bệnh nhân đeo máy. Qua tìm hiểu một số bệnh nhân cho rằng ngại đeo máy, đeo máy chưa được cải thiện sức nghe nên không dùng. Hiện nay trên các máy đo TLL thường được cài sẵn bộ câu thử QUIKSIN tiếng Anh nên không thể sử dụng để đo cho người Việt được vì vậy xây dựng BCLL tiếng Việt để ứng dụng là cần thiết.
Tác giả nghiên cứu cũng cho biết chênh lệch ngưỡng nghe trung bình đơn âm (PTA) và ngưỡng nghe nhận lời (SRT) qua bảng câu thính lực lời Tiếng Việt trên bệnh nhân nghe kém tuổi già thường cao hơn ở người trẻ và trung bình là 12-13 dB, tuy vậy trong số đó có 8 tai PTA và ngưỡng nghe nhận lời bệnh nhân chỉ dưới 6 dB và có 3 tai lệch 18-22 dB. Do vậy nếu chỉ dựa vào nghe trung bình đơn âm khó đoán biết được ngưỡng nghe nhận lời ở bệnh nhân nghe kém tuổi già. Mặt khác có thể 2 bệnh nhân có cùng PTA nhưng khả năng nhận biết tối đa (chỉ có phân biệt lời) lại khác nhau.
Tác giả nghiên cứu cho rằng cần ứng dụng bảng câu thính lực lời để đánh giá hiệu suất của máy trợ thính, giúp cho việc lựa chọn máy thích hợp và phân loại mức độ nghe kém tuổi già.
Tác giả Nguyễn Thị Hường kết luận nghiên cứulà dựa vào ngưỡng nghe trung bình đơn âm (PTA) khó dự đoán ngưỡng nghe nhận lời (SRT) trên bệnh nhân nghe kém tuổi già. Cần ứng dụng thính lực lời qua BCTLL tiếng Việt để đánh giá hiệu suất của máy trợ thính và đánh giá mức độ nghe kém tuổi già. Dạng biểu đồ thính lực lời qua BCTLL trên bệnh nhân nghe kém tuổi già chủ yếu là dạng 3 cũng có thể gặp dạng song song với đồ thị mẫu (dạng 2) trong nghe kém độ 1 và độ 2. Dạng 4,5 và dạng 6 trong nghe kém nặng và điếc.
Một báo cáo nghiên cứu khác của tác giả Lê Long Hải đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng máy trợ thính ở người cao tuổi tại Việt Nam”, nghiên cứu được thực hiện trên 110 bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn, phòng khám Tai Mũi Họng – Thính học. Người trẻ nhất 60 tuổi, người già nhất 99 tuổi, độ tuổi trung bình là 71 tuổi. Số người đeo máy trợ thính mỗi ngày nhiều nhất là 10 giờ, ít nhất không đeo, trung bình là 4,7 giờ/ngày. Tác giả Lê Long Hải có kết luận cho nghiên cứu, khi tuổi càng cao sẽ làm giảm khả năng mua máy trợ thính; Nếu tăng yếu tố bạn bè đối tượng nghiên cứu dễ tăng khả năng mua máy trợ thính, đối với đặc tính của máy trợ thính, nếu tăng yếu tố hiểu mọi nơi lên sẽ làm giảm khả năng mua máy. Đối tượng nghiên cứu tỏ ra quan tâm đến hãng sản xuất máy có uy tín, có dịch vụ bảo hành, sửa chữa tốt; máy bền, có nhiều đặc tính phù hợp khi sử dụng. Những yếu tố tiện lợi để ưa thích trong chọn lựa máy là đặc tính đồng bộ hóa máy khi đeo; đặc tính tự động điều chỉnh máy hàng ngày. Tác giả cũng lưu ý máy trợ thính cần có thêm đặc tính chống ẩm phù hợp khí hậu tại Việt Nam, dễ đeo, dễ tháo máy, dễ thay pin, tuổi thọ pin lâu và giá cả phù hợp đối với người dân nông thôn, người nghèo. Việc có máy trợ thính giúp cải thiện giao tiếp, tăng cường mối quan hệ trong gia đình, cộng đồng qua đó góp phần nâng cao chất lượng sống đối với người cao tuổi.  
Lâm Quyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 231

Số lượt truy cập: 9360854

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang