[Đăng ngày: 20/11/2016]
Đối với bệnh nhân HIV/AIDS giai đoạn AIDS thường gặp một bệnh nhiễm trùng cơ hội ở não do Toxoplasma Gondii gây ra.
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho kết quả tỷ lệ bệnh não do Toxoplasma ở bệnh nhân AIDS dao động từ 5-47% trong các bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở hệ thần kinh. Tổn thương não do Toxoplasma có khả năng điều trị khỏi ở giai đoạn sớm nếu được phát hiện bệnh và điều trị kịp thời. Việc tìm hiểu các yếu tố liên quan giữa một số triệu chứng lâm sàng với cận lâm sàng là rất cần thiết để việc điều trị kịp thời và hiệu quả giúp nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
Từ tháng 7/2010 đến tháng 7/2013, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Thanh Tâm- Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội- cùng cộng sự Học Viện Quân Y tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số yếu tố liên quan giữa lâm sàng và cận lâm sàng của tổn thương não do Toxoplasma Gondii ở bệnh nhân HIV/AIDS”.
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán xác định nhiễm HIV/AIDS và có triệu chứng lâm sàng tổn thương thần kinh trung ương; được chẩn đoán Toxoplsamosis trên cộng hưởng từ sọ não; được chẩn đoán là bệnh não do Toxoplasma và đáp ứng lâm sàng với thuốc điều trị đặc hiệu Toxoplasmosis sau ít nhất 1 tuần điều trị bằng thuốc điều trị đặc hiệu Toxoplasmosis bệnh nhân có sự cải thiện về các triệu chứng lâm sàng thần kinh; được xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán Toxoplasmosis và kết quả dương tính. Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân HIV/AIDS có đồng nhiễm trùng cơ hội hệ thống thần kinh trung ương, bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu. Theo tác giả nghiên cứu, đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc, tiến cứu. Chọn mẫu toàn bộ, số bệnh nhân tham gia là 66.
Tác giả Trần Thanh Tâm phân tích kết quả nghiên cứu liên quan giữa cận lâm sàng với triệu chứng đau đầu có 89,5% bệnh nhân phù não từ độ II trở lên có triệu chứng đau đầu và 88,9% bệnh nhân phì độ I có triệu chứng đau đầu. Tỷ lệ đau đầu của bệnh nhân phù não độ II-III cao hơn nhóm bệnh nhân phù não độ I; tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghịa thống kê (p>0,05). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về triệu chứng đau đầu giữa nhóm bệnh nhân có > 4 ổ tổn thương và < 4 ổ tổn thương; nhóm di lệch > độ I với nhóm < độ II.
Mặc dù đau đầu là triệu ch71ng xuất hiện sớm và chỉ điểm cho bệnh lý ở não, đau đầu cũng chiếm tỷ lệ rất cao trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu (89,4%) nhưng chưa có mối tương quan chặt chẽ với hình ảnh tổn thương trên phim chụp CLVT và/hoặc phim CHT sọ não; điều này có thể giải thích rằng triệu chứng đau đầu không  chỉ phụ thuộc vào số lượng ổ tổn thưio7ng, vào mức độ phù não và mức độ di lệch đường giữa. Thường khi bệnh nhân có triệu chứng đau đầu là do màng não bị kích thích, tác nhân kích thích thường do viêm nhiễm hoặc do khối choán chỗ gây tăng áp lực nội sọ, tuy nhiên tác nhân gây tổn thương não trong nghiên cứu tạo nên các ổ tổn thương <20mm (chiếm tỷ lệ 70-76,3%) nên tạo khối choán chỗ không đủ lớn; mặt khác tổn thươnglai5 nằm rải rác, sâu trong tổ chức não và tác nhân gây bệnh đáp ứng tốt với thuốc điều trị đặc hiệu nên triệu chứng đau đầu xuất hiện sớm, tỷ lệ cao nhưng số ngày tồn tại triệu chứng ngắn (7,53 + 3,35 ngày).
Đối với mối liên quan giữa cận lâm sàng với triệu chứng sốt cho thấy có 57,9% bệnh nhân phù não từ độ II trở lên có triệu chứng sốt và 11,1% bệnh nhân phù độ I có triệu chứng sốt. Tỷ lệ sốt của bệnh nhân phù não độ II-III cao hơn nhóm bệnh nhân phù não độ I, sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p<0,001). Có 63,6% bệnh nhân có số lượng TCD4 < 50 TB/mm3 có triệu chứng sốt và 17,6% bệnh nhân có số lượng TCD4 > 50 TB/mm3 có triệu chứng sốt, sốt là phản ứng của cơ thể trước tác nhân tấn công, nếu phản ứng của cơ thể trước tác nhân gây bệnh ở người không suy giảm miễn dịch là mạnh mẽ và điển hình thì ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch (bệnh nhân AIDS) phản ứng sốt của cơ thể không điển hình tùy thuộc vào mức độ suy giảm miễn dịch. Trong nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thanh Tâm cũng không là ngoại lệ. Với mức độ suy sụp miễn dịch (số lượng TCD4 < 50 TB/mm3 máu- theo phân độ của ICD10) thì sự khác biệt giữa triệu chứng sốt có TCD4 < 50 TB/mm3 máu và không sốt có TCD4      < 50TB/mm3 máu là rất có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về triệu chứng sốt giữa nhóm bệnh nhân có > 4 ổ tổn thương và < 4 ổ tổn thương; nhóm di lệch > độ I với nhóm < độ II
Về liên quan giữa số ngày có triệu chứng sốt với số lượng ổ tổn thương có mối tương quan thuận, không chặt chẽ (r=0,299,p>0,05); nhiều ổ tổn thương trên hình ảnh biểu hiện một tình trạng cấp tính của tác nhân gây bệnh, gây viêm cấp tính hệ thống não bộ, số lượng ổ tổn thương nhiều liên quan đến số ngày bệnh nhân sốt cũng sẽ tăng, tuy nhiên chưa có ý nghĩa thống kê.
Đối với mối liên quan giữa số lượng TCD4 với một số hình ảnh tổn thương có mối tương quan nghịch, không chặt chẽ (r = -0,123,p>0,05), có nghĩa là số lượng TCD4 giảm thì thấy tăng số lượng ổ tổn thương, số lượng TCD4 càng thấp thì mức độ suy giảm miễn dịch càng nặng, tác nhân cơ hội xâm nhập rầm rộ với biểu hiện nhiều ổ tổn thương trên não bộ, tuy nhiên sự tương quan này chưa có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Báo cáo của tác giả nghiên cứu cho thấy mức độ di lệch đường giữa và số lượng TCD4 có mối tương quan nghịch, không chặt chẽ (r = -0,225,p>0,05); trên thực tế lâm sàng, khi cơ thể suy giảm miễn dịch càng nặng, tức là số lượng tế bào miễn dịch càng giảm thì tác nhân gây bệnh tấn công cơ thể càng mạnh mẽ và tổn thương sẽ càng nặng, ở kết quả nghiên cứu số lượng TCD4 càng giảm thì số lượng ổ tổn thương và mức độ phù não càng nhiều, là nguyên nhân làm di lệch đường giữa; tuy nhiên mối tương quan này càng yếu chưa có ý nghĩa thống kê, có lẽ là do cỡ mẫu chưa đủ lớn.
Đối với mối liên quan giữa số lượng TCD4 với mức độ phù não có mối tương quan nghịch, không chặt chẽ (r = -0,167,p>0,05); có nghĩa là số lượng TCD 4 giảm thì kích thước phù não tăng, số lượng TCD4 càng thấp thì mức độ suy giảm miễn dịch càng nặng, tác nhân cơ hội xâm nhập rầm rộ với biểu hiện một tình trạng viêm cấp tính trên lâm sàng, tức mức độ phù não rộng, sự tương quan này chưa có ý nghĩa thống kê với p>0,05. Không tìm được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hội chứng màng não, hàm lượng IgG với số lượng ổ tổn thương, mức độ di lệch đường giữa, mức độ phù não trên hình ảnh chụp phim.
Văn Hanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 219

Số lượt truy cập: 9360914

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang