{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Bệnh nhân HIV/AIDS vào viện ở giai đoạn muộn
[Đăng ngày: 28/11/2016]
Tác giả Nguyễn Thị Thu Oanh- Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định- đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nguyên nhân tử vong của bệnh nhân HIV/AIDS điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định 2011-2016”.
Đây là nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang, có 118 bệnh nhân HIV/AIDS nằm viện tại Khoa Truyền nhiễm- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định từ tháng 6/2011 đến tháng 6/2016 được chọn là đối tượng nghiên cứu. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là tuổi từ 18 trở lên, bệnh nhân được khẳng định HIV dương tính bằng ba phương pháp. Thu thập số liệu dựa trên các hồ sơ bệnh án nội trú về các thông tin: tuổi, giới tính, đường lây truyền, bệnh nhiễm trùng cơ hội, các xét nghiệm cận lâm sàng như công thức máu, AST, ALT, ure, creatinin, HbsAg, anti-HCV, soi đờm tìm vi khuẩn lao, X quang phổi, siêu âm tổng quát, sinh thiết hạch…Điền các thông tin vào phiếu điều tra đã được thiết kế sẵn.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Thị Thu Oanh, đối tượng nghiên cứu có 78,8% là nam giới; nhóm tuổi vào nhập viện trung bình 35,4 + 7,4. Yếu tố nguy cơ lây truyền HIV là do quan hệ tình dục không an toàn chiếm đa số (66,1%). Có hơn một nửa số bệnh nhân không biết bị nhiễm HIV. Có 21,2% bệnh nhân được đưa nhầm vào các khoa, phòng khác. Có 95,8% đối tượng nghiên cứu vào viện ở giai đoạn lâm sàng 3 và 4, thời gian nằm viện trung bình là 11,1 + 5,9 ngày, cân nặng trung bình của các bệnh nhân là 47,3 + 7,9 kg, đồng nhiễm vi rút viêm gan B và C là 40%. Tình trạng mắc nấm họng và thực quản chiếm tỷ lệ cao nhất 82,2%. Có 37 bệnh nhân (chiếm 31,3%) lao phổi và lao ngoài phổi trong đó có 05 bệnh nhân đang được điều trị thuốc kháng lao, viêm phổi chiếm 17,8%, nấm da chiếm 24,7%. Bệnh lý não do HIV có 05 bệnh nhân chiếm 4,2%. Ngoài ra các bệnh lý khác như hôn mê gan, bệnh tim mạch, bệnh thận, các tác dụng phụ của ARV (thiếu máu nặng, sốt, phát ban…) chiếm tỷ lệ thấp.
Về kết quả điều trị, đối tượng nghiên cứu ổn định và xuất viện chiếm 59,3%; tử vong chiếm khá cao (35,6%). Có 06 bệnh nhân bỏ về nên không được theo dõi. Khảo sát huyết học cho thấy thiếu máu rất nặng và nặng chiếm 11%, trong đó có 05 bệnh nhân hồng cầu < 1 triệu là do tác dụng phụ của thuốc kháng vi rút (ARV), ngoài ra đa số bệnh nhân thiếu máu vừa và nhẹ chiếm 69,5%. Hemoglobulin <100 g/l chiếm 54,4%. Có 57,6% bạch cầu giảm < 5.000/mm3. Có 88 bệnh nhân được xét nghiệm T-CD4 cho thấy T-CD4 dưới 100 tế bào/mm3 chiếm tỷ lệ 38,6%; T-CD4 > 100-350 chiếm 52,2%. Giá trị trung bình của T-CD4 là 168,5 + 144,5.
Về nguyên nhân tử vong, đa số bệnh nhân tử vong ở giai đoạn lâm sàng 4 chiếm 66,6%; có 83,3% bệnh nhân có từ 2 nhiễm trùng cơ hội trở lên. Hầu hết các bệnh nhân tử vong chưa được tiếp cận với ARV chiếm 78,6%. Thiếu máu vừa và nhẹ chiếm 66,7% và trên nửa số bệnh nhân có giảm bạch cầu trong máu chiếm 57,1%. Có 100% (81 bệnh nhân) được làm CD4 có T-CD4 < 100.
Chúng ta biết rằng, HIV phá hủy các tế bào trong hệ thống miễn dịch thông thường cung cấp bảo vệ chống lại các sinh vật gây bệnh. Do đó, người nhiễm HIV dễ bị các nhiễm trùng cơ hội trong đó bệnh lao và viêm phổi là nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến tử vong trên bệnh nhân HIV/AIDS. Tuy nhiên, việc phát hiện sớm nhiễm HIV bị trì hoãn bởi nhiều lý do như sự hiểu biết của mọi người về căn bệnh này còn hạn chế vì trình độ văn hóa thấp, vì công việc phải đi làm ăn xa không được tiếp xúc với các thông điệp truyền thông trên thông tin đại chúng…Các cơ sở y tế được công nhận cho phép trả lời kết quả còn hạn hẹp dẫn đến việc khó khăn cho người tình nguyện đi xét nghiệm HIV kiểm tra. Sự kỳ thị và phân biệt đối xử là yếu tố quan trọng làm cho người nhiễm HIV không dám công khai bệnh tật của mình. Ngoài ra những tập tục lạc hậu của người dân về cách chữa bệnh dẫn đến bệnh trầm trọng hơn. Kết quả là người nhiễm HIV được phát hiện và điều trị quá muộn với nhiều nhiễm trùng cơ hội, thời gian nằm viện kéo dài, chi phí thuốc men cao, tỷ lệ tử vong cao.
Tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Oanh có kết luận bệnh nhân HIV/AIDS tại tỉnh Bình Định có đặc điểm là vào viện muộn, giai đoạn lâm sàng 3 và 4 chiếm 95,8%. Thời gian nằm viên trung bình là 11,1 + 5,9 ngày, cân nặng trung bình của các bệnh nhân là 47,3 + 7,9kg, đồng nhiễm vi rút viêm gan B và C chiếm 40%. Hầu hết nhập viện do nhiễm trùng cơ hội, đứng đầu là nấm họng và thực quản (82,2%), lao phổi và ngoài phổi chiếm 31,3%; nấm da chiếm 24,7%; viêm phổi chiếm 17,8%. Thiếu máu rất nặng và nặng chiếm 11%, thiếu máu vừa và nhẹ chiếm 69,5%. Hemoglobulin < 100h/l chiếm 54,4%; có 57,6% bạch cầu giảm < 5.000/mm3. Có 38,6% có T-CD4 < 100 tế bào/mm3.
Nguyên nhân tử vong vì vào viện muộn do không được phát hiện sớm hoặc từ chối điều trị ARV (66,6% vào viện giai đoạn lâm sàng 4). Nhiều nhiễm trùng cơ hội trên một bệnh nhân (83,3% bệnh nhân có từ 2 nhiễm trùng cơ hội trở lên), chưa được điều trị ARV (78,6%).
Một nghiên cứu khác của tác giả Lã Thị Nguyệt Minh- Trường Đại học Y Hà Nội cho thấy nhóm bệnh nhân HIV/AIDS tuổi từ 50 trở lên đang điều trị ARV có điểm chất lượng sống về thể chất, khía cạnh xã hội và nguồn lực cao nhất trong các nhóm tuổi. Nhóm tuổi này đa phần đã ổn định cuộc sống gia đình và được gia đình hỗ trợ. Đối tượng nghiên cứu có mức độ suy giảm miễn dịch bình thường hoặc suy giảm không đáng kể có sức khỏe thể chất cao nhất (72,9 + 10,1 điểm) cao gấp 1,26 lần so với bệnh nhân suy giảm nặng (57,9 + 13,3 điểm). Hơn nữa, điểm trung bình về sức khỏe thể chất tăng cao dần theo thời gian điều trị ARV. Nhóm bệnh nhân điều trị ARV > 2 năm có điểm sức khỏe thể chất cao nhất; thấp nhất là nhóm điều trị từ 6-24 tháng. Việc điều trị thuốc kháng vi rút giúp bệnh nhân HIV/AIDS cải thiện về mặt vi rút học, miễn dịch học và triệu chứng lâm sàng. Lâm sàng cải thiện, sức khỏe thể chất tăng cao là tiền đề cho việc cải thiện sức khỏe tâm thần. Như vậy, đo lường chất lượng sống ở bệnh nhân HIV/AIDS là biện pháp quan trọng góp phần đánh giá hiệu quả của các can thiệp điều trị và các chương trình y tế. Từ đó giúp cho các nhà lâm sàng không những điều trị hết bệnh mà còn xây dựng các kế hoạch để hỗ trợ tốt hơn trong việc theo dõi và quản lý bệnh nhân HIV/AIDS.
Hữu Cao
Chi tiết
Các tin khác
28/11/2016:
Tầm quan trọng điều chỉnh tâm lý trong điều trị ung thư vú
25/11/2016:
Chất lượng cuộc sống bệnh nhân HIV/AIDS
24/11/2016:
Cải thiện sức nghe ở người cao tuổi
20/11/2016:
Tổn thương não do Toxoplasma Gondii ở bệnh nhân HIV/AIDS
18/11/2016:
Kiến thức – thái độ thực hành về điều trị ARV của người nhiễm HIV/AIDS
15/11/2016:
Yếu tố ảnh hưởng đến duy trì điều trị Methadone
13/11/2016:
Viêm loét giác mạc – bệnh dịch thầm lặng
13/11/2016:
Phân loại bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue
10/11/2016:
Chẩn đoán bệnh lý ác tính ở trẻ em
06/11/2016:
Hiệu quả can thiệp truyền thông phòng chống sốt xuất huyết cho học sinh
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
221
Số lượt truy cập:
9360914
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa