{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Yếu tố ảnh hưởng đến duy trì điều trị Methadone
[Đăng ngày: 15/11/2016]
Hiện nay, trong các biện pháp can thiệp giảm tác hại tại Việt Nam cho nhóm nghiện chích ma túy (NCMT) điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone (gọi tắt là Chương trình điều trị Methadone) là một trong những biện pháp hiệu quả nhất bên cạnh chương trình phân phát và hướng dẫn sử dụng bơm kim tiêm sạch, chương trình phân phát và hướng dẫn sử dụng bao cao su.
Theo báo cáo của Cục phòng chống HIV/AIDS, tính đến tháng 3 năm 2016 trên toàn quốc, chương trình đã triển khai được 243 cơ sở điều trị tại 58 tỉnh/thành phố và điều trị cho 44.282 bệnh nhân. Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone là điều trị lâu dài nên việc duy trì điều trị của bệnh nhân là một trong những chỉ số quan trọng minh chứng cho hiệu quả của chương trình.
Trong năm 2013 tác giả nghiên cứu Phạm Đức Mạnh – Cục phòng chống HIV/AIDS Bộ Y tế đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến duy trì điều trị Methadone của bệnh nhân tại Việt Nam”. Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân đã điều trị trên 24 tháng tính đến 31/12/2013.
Nghiên cứu được tiến hành tại các cơ sở điều trị Methadone đã được triển khai từ tháng 4/2008 đến trước ngày 31/12/2011. Bệnh nhân được theo dõi trong thời gian 02 năm kể từ khi bệnh nhân bắt đầu điều trị. Các dữ liệu của bệnh nhân được thu thập tại các thời điểm sau 3 tháng, 6 tháng, 1 năm và 2 năm điều trị.
Địa điểm nghiên cứu được thực hiện tại 10 cơ sở điều trị Methadone được chọn từ 41 cơ sở điều trị bắt đầu triển khai trước 31/12/2011 tại 7 tỉnh/thành phố. Phương pháp nghiên cứu tiến hành chọn mẫu theo tỷ lệ xác suất, bao gồm Hải Phòng 03 cơ sở điều trị (Lê Chân, Ngô Quyền, An Lão), TP. Hồ Chí Minh 2 cơ sở điều trị (Quận 4, Quận 8), Hà Nội 01 cơ sở điều trị (Sơn Tây), Cần Thơ 01 cơ sở điều trị (Ninh Kiều), Hải Dương 01 cơ sở điều trị (Kim Thành), Điện Biên 01 cơ sở điều trị (Tuần Giáo), Thanh Hóa 01 cơ sở điều trị (Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh Thanh Hóa).
Theo tác giả nghiên cứu đây là nghiên cứu thiết kế dưới dạng một nghiên cứu dọc. Bệnh nhân được theo dõi tại các cơ sở điều trị theo thời gian. Số mẫu nghiên cứu được tính theo công thức ước tính mẫu cho một tỷ lệ trong quần thể và nhân hệ số ảnh hưởng thiết kế mẫu (DE) lấy bằng 1,2.
Tác giả nghiên cứu chọn cỡ mẫu 500 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu. Đối với phương pháp thu thập số liệu, bệnh nhân điều trị Methadone có hồ sơ bệnh án được mã hóa. Người thu thập số liệu là các nhân viên y tế làm việc lĩnh vực điều trị Methadone và đã được tập huấn về cách thu thập số liệu. Dữ liệu khảo sát là dữ liệu được lấy từ bệnh án.
Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi. Biểu mẫu thu thập thông tin này bao gồm dữ liệu thu thập tại giai đoạn đầu (trước điều trị), 3 tháng, 6 tháng và 1 năm điều trị và 2 năm điều trị. Các dữ liệu gồm những thông tin: đặc điểm nhân khẩu học; Tiền sử sử dụng ma túy; Kết quả xét nghiệm (HIV/viêm gan B/viêm gan C); Hành vi sử dụng ma túy và các biện pháp can thiệp; Liều thuốc Methadone; Tuân thủ điều trị; Duy trì điều trị; Hỗ trợ gia đình; Vấn đề y tế khác (tình trạng nhiễm HIV/AIDS, Lao, Viêm gan, bệnh lý tâm thần và các tác dụng không mong muốn của thuốc Methadone).
Theo phân tích của tác giả Phạm Đức Mạnh, đặc điểm của đối tượng nghiên cứu tham gia điều trị Methadone, hầu hết là nam giới (96,8%), chỉ có 3,2% là nữ giới. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 32 tuổi (19 – 60 tuổi). Số lượng bệnh nhân có trình độ học vấn khá thấp chiếm 52,8% gồm các bệnh nhân vừa học xong trung học cơ sở hoặc thấp hơn, chỉ có 2,6% bệnh nhân có trình độ cao đẳng hoặc đại học.
Thời gian trung bình sử dụng heroin đến khi đối tượng nghiên cứu tham gia điều trị Methadone là 10,2 năm. Bên cạnh heroin, một số bệnh nhân còn sử dụng thêm các chất gây nghiện khác như Methamphetamine (0,8%), Ecstasy (0,4%) và rượu (7,4%). Có tới 97% bệnh nhân sử dụng heroin qua con đường tiêm chích với tần suất từ 1-3 lần/ngày (68,8%), còn lại thì bệnh nhân sử dụng có tần suất sử dụng từ 4 lần/ngày.
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu nhiễm HIV là 35,1%, viêm gan B 7,8%, viêm gan C 32,7%. Tỷ lệ bệnh nhân đồng nhiễm HIV với viêm gan B hoặc viêm gan C là 15% và 3,6%; tỷ lệ bệnh nhân nhiễm cả 3 loại vi rút này là 1,6%. Tỷ lệ bệnh nhân đã từng bị bệnh lao là 7,8% và các bệnh khác là 4,6%.
Về đặc điểm đối tượng nghiên cứu trong quá trình điều trị, tỷ lệ duy trì điều trị thời gian lúc bắt đầu là 100%, sau 3 tháng tỷ lệ duy trì điều trị là 99,4%; sau 6 tháng là 98,4%; sau 12 tháng là 94,6%; sau 24 tháng giảm còn 88,2%. Như vậy trong khoảng 24 tháng có 59 bệnh nhân ra khỏi chương trình, tỷ lệ bỏ trị của bệnh nhân dao động từ 2,4 – 7,9/1.000 bệnh nhân trong một tháng. Về lý do bỏ trị do không có thông tin chiếm tỷ lệ 34%; do bị bắt đưa vào Trung tâm 06 chiếm tỷ lệ 30%; do bệnh nhân tử vong 8%; do bệnh nhân ngừng tự nguyện 14%, các lý do khác là 14%.
Về liều Methadone khởi đầu trung bình của đối tượng nghiên cứu là 21,2mg/ngày (5mg đến 30mg), trong khi tứ phân vị là từ 20mg đến 25mg. Các liều lượng trung bình hàng ngày ở thời điểm 3, 6, 12 và 24 tháng tương ứng là 86,8mg, 91mg, 91,6mg và 86,4mg. Phạm vi của các liều là rộng hơn sau mỗi khoảng thời gian theo dõi. Có 92,2% đối tượng nghiên cứu có liều Methadone tăng lên trong 3 tháng đầu và tỷ lệ này là 34,9%; 23,7% và 27% vào lúc 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng tương ứng. Liều lượng giảm theo thời gian lần lượt là 7%; 14%; 26,7% và 40,5% bệnh nhân vào thời điểm 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng theo dõi và kết quả nghiên cứu ghi nhận có một số bệnh nhân được giảm liều mà không có dấu hiệu.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy liều Methadone trung bình hàng ngày của bệnh nhân điều trị ARV cao hơn nhiều so với những người nhiễm HIV nhưng không điều trị ARV.
Đối với việc tuân thủ điều trị, nhiều bệnh nhân đã bỏ 1-3 liều trong quá trình điều trị và tăng cao theo thời gian điều trị. Tỷ lệ bệnh nhân này đã ngừng điều trị 1-3 ngày là 3,8% trong 3 tháng đầu tiên và tăng lên đến 30,9% ở 24 tháng. Chỉ có một lượng nhỏ bệnh nhân bỏ lỡ 4-5 liều (tăng từ 0,8% lên đến 2,7% ở thời điểm 24 tháng).
Về hành vi tiếp tục sử dụng ma túy trong quá trình điều trị, khi bắt đầu điều trị, 100% đối tượng nghiên cứu sử dụng heroin và sau đó giảm dần trong quá trình điều trị, 54% sau 3 tháng; 19,4% sau 6 tháng; 14,5% sau 12 tháng và 14% ở 24 tháng.
TS. Phạm Đức Mạnh cho biết nghiên cứu ghi nhận được các yếu tố ảnh hưởng đến duy trì điều trị của bệnh nhân, những bệnh nhân nhiều tuổi hơn thì khả năng duy trì điều trị cao hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi hơn (sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với HR = 0,61; p = 0,017). Những bệnh nhân có trình độ học vấn cao hơn (từ Trung học phổ thông trở lên) thì khả năng duy trì điều trị thấp hơn so với bệnh nhân có trình độ học vấn thấp hơn (sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với HR = 1,58; p = 0,035). Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy khả năng này thấp hơn gấp 2 lần.
Việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân ảnh hưởng đến việc bỏ trị điều trị của bệnh nhân. Các bệnh nhân không tuân thủ điều trị thì khả năng duy trì điều trị thấp hơn so với bệnh nhân tuân thủ điều trị hoàn toàn (sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với H = 4,5; p = 0,001). Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy khả năng ra khỏi chương trình thấp gần 6 lần.
Theo TS. Mạnh, liều hàng ngày bệnh nhân sử dụng không có liên quan với việc duy trì điều trị của bệnh nhân. Phát hiện này trái ngược với kết quả một số nghiên cứu khác chỉ ra liều Methadone ảnh hưởng mạnh đến việc duy trì điều trị của bệnh nhân.
Hành vi tiếp tục sử dụng ma túy trong quá trình điều trị không là yếu tố ảnh hưởng đến việc duy trì điều trị của bệnh nhân. Điều này cũng trái ngược với các nghiên cứu trước đây. Tác giả giải thích do trong thời gian đầu khi chưa đạt được liều duy trì có thể bệnh nhân vẫn có thể tiếp tục sử dụng heroin với tần suất ít hơn hàng ngày nhưng khi họ đạt được liều duy trì thì họ cảm thấy không còn mong muốn tiếp tục sử dụng ma túy nữa.
Yếu tố dự báo quan trọng nhất trong nghiên cứu này theo TS. Mạnh là việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân, khi đưa biến này vào trong mô hình đa biến, nó là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với việc duy trì điều trị của bệnh nhân.
TS. Phạm Đức Mạnh cũng lưu ý những yếu tố như thái độ của bệnh nhân, thái độ của nhân viên y tế tại cơ sở điều trị Methadone có thể ảnh hưởng đến việc duy trì điều trị của bệnh nhân nhưng chưa được đưa vào khảo sát ở nghiên cứu này. Do đó, các nghiên cứu sau cần chú ý đưa vào để phân tích kỹ hơn vấn đề này./.
Nghi Anh
Chi tiết
Các tin khác
13/11/2016:
Viêm loét giác mạc – bệnh dịch thầm lặng
13/11/2016:
Phân loại bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue
10/11/2016:
Chẩn đoán bệnh lý ác tính ở trẻ em
06/11/2016:
Hiệu quả can thiệp truyền thông phòng chống sốt xuất huyết cho học sinh
04/11/2016:
Đo lường số năm sống khỏe mạnh bị mất do bệnh tật
03/11/2016:
Ứng dụng tế bào gốc trong mất đoạn xương
01/11/2016:
Ứng dụng tế bào gốc trong mất đoạn xương
01/11/2016:
Tổng quan Y văn về nghiên cứu đột quỵ
27/10/2016:
Điều trị viêm loét giác mạc do vi khuẩn
26/10/2016:
Phát hiện chẩn đoán bệnh nhân u máu thể hang trên lều
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
221
Số lượt truy cập:
9360916
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa