[Đăng ngày: 28/11/2016]
Nhiễm trùng cơ hội (NTCH) là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong chính ở người nhiễm HIV. Các bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp là lao, viêm phổi, tiêu chảy, giang mai, herpes, nhiễm trùng huyết, nhiễm nấm…Các tác nhân gây bệnh này có thể là vi khuẩn, vi rút, nấm hoặc ký sinh trùng.
Bệnh nhiễm trùng cơ hội luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu trong công tác điều trị bệnh nhân HIV. Dịch HIV/AIDS ở nước ta còn tiềm ẩn, người nhiễm HIV chưa được xét nghiệm còn nhiều, tình trạng kỳ thị phân biệt đối xử người nhiễm vẫn còn cao. Do đó, việc giám sát tiếp cận đảm bảo chất lượng gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nhiễm trùng cơ hội vẫn còn là vấn đề đặc biệt nguy hiểm cho những người chưa được xét nghiệm HIV, chưa biết bệnh, nhập viện chậm, bệnh cảnh lâm sàng đa dạng, phức tạp trong tình trạng đe dọa tính mạng.
Việc chẩn đoán và điều trị các bệnh NTCH rất quan trọng, có tính chất quyết định đưa người bệnh đến tiếp cận các cơ sở chăm sóc điều trị ARV càng sớm càng tốt, giúp người bệnh phục hồi chức năng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các nhiễm trùng cơ hội mới hoặc tái phát, cải thiện chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ.
Từ tháng 3-8/2014, nhóm tác giả Cao Việt Nga, Huỳnh Phe Rích- Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Đa khoa TP Cần Thơ thực hiện đề tài” Khảo sát các bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV tại Bệnh viện Đa khoa TP. Cần Thơ”. Nghiên cứu có 02 mục tiêu (1) xác định tỷ lệ các bệnh NTCH thường gặp trên bệnh nhân nhiễm HIV.(2) Mô tả mối liên quan giữa số lượng tế bào T-CD4 ở máu ngoại vi với các bệnh nhiễm trùng cơ hội trên bệnh nhân nhiễm HIV.
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân phải có 02 tiêu chuẩn (1) nhiễm HIV; (2) mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội: nấm miệng, nấm thực quản, bệnh do nấm Cryptococcus (VMN, nấm da, nhiễm nấm huyết), viêm phổi do Pneumocysty (PCP), do vi trùng, lao phổi, viêm hạch, tiêu chảy… theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế 2009. Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân có xét nghiệm HIV dương tính, không mắc một trong các nhiễm trùng cơ hội nào. Bệnh nhân có xét nghiệm HIV dương tính có mắc một trong các nhiễm trùng cơ hội nhưng bị rối loạn tâm thần, không hợp tác với nhóm nghiên cứu.
Theo phân tích của tác giả Cao Việt Nga, có 134 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện và tự nguyện tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ nam có 85 trường hợp (63,4%), nữ có 49 trường hợp (36,6%). Tuổi trung bình 35,1 + 8,5 tuổi, đường lây qua quan hệ tình dục không an toàn chiếm ưu thế (64,2%); đa số học vấn thấp, trình độ học vấn cấp 1 và không biết chữ chiếm 63%. Các bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp: viêm phổi (23,1%), nấm miệng (17,9%), lao phổi (14,9%), viêm hạch (9%), nhiễm trùng huyết (8,2%), tiêu chảy kéo dài (7,5%), viêm màng não (7,5%).
Kết quả nghiên cứu theo phân tích của tác giả nghiên cứu cho thấy có 101 đối tượng nghiên cứu được thực hiện đếm tế bào T-CD4 thì có đến 68,3% bệnh nhân có số T-CD4 < 50 và số T-CD4 >100 chiếm tỷ lệ thấp 19,8%. Còn lại 33 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 24,6% chưa thực hiện đếm tế bào T-CD4 kịp vì bệnh nhân mới nhập viện lần đầu trong tình trạng rất nặng, đe dọa đến tính mạng, chưa biết bệnh, chưa đủ tiêu chuẩn để thực hiện đếm tế bào T-CD4. Nhưng số bệnh nhân này đã được thực hiện đếm tế bào lympho tại phòng xét nghiệm thì cả 33 bệnh nhân (100%) đều có số lượng tế bào lympho < 1200TB/mm3, tương đương với số T-CD4 ước ượng < 200 TB/mm3.
Khi phân tích mối liên quan giữa số lượng tế bào T-CD4 và NTCH, kết quả nghiên cứu cho thấy lao gặp ở tất cả các mức độ tế bào T-CD4, 50% bệnh nhân mắc lao có số T-CD4 < 50, 20% bệnh nhân có số T-CD4 từ 50-100 và 30% bệnh nhân có số T-CD4 từ >100 đến < 200. Nhiễm nấm Candida miệng thực quản cũng xuất hiện ở các mức T-CD4 khác nhau. Cùng với lao và nhiễm nấm candida, viêm phổi cũng xuất hiện ở các mức T-CD4 khác nhau.
Tác giả nghiên cứu Cao Việt Nga kết luận các NTCH thường gặp là viêm phổi (23,1%), nấm miệng (17,9%), lao phổi (14,9%), viêm hạch (9%), nhiễm trùng huyết (8,2%), tiêu chảy kéo dài (7,5%), viêm màng não (7,5%) và viêm não Toxoplasma (4,5%). Xét nghiệm T-CD4 < 50 TB/mm3 (68,3%), T-CD4 > 100 chiếm 19,8%. Mức độ giảm T-CD4 có liên quan đến sự xuất hiện các nhiễm trùng cơ hội, mức độ NTCH càng nhiều thì số lượng tế bào T-CD4 càng thấp, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Thị Thu Oanh- Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định thực hiện nghiên cứu trên 118 bệnh nhân HIV/AIDS, cho kết quả bệnh nhân vào viện điều trị muộn , giai đoạn lâm sàng 3 và 4 chiếm 95,8%. Thời gian nằm viên trung bình là 11,1 + 5,9 ngày, cân nặng trung bình của các bệnh nhân là 47,3 + 7,9kg, đồng nhiễm vi rút viêm gan B và C chiếm 40%. Hầu hết nhập viện do nhiễm trùng cơ hội, đứng đầu là nấm họng và thực quản (82,2%), lao phổi và ngoài phổi chiếm 31,3%; nấm da chiếm 24,7%; viêm phổi chiếm 17,8%. Thiếu máu rất nặng và nặng chiếm 11%, thiếu máu vừa và nhẹ chiếm 69,5%. Hemoglobulin < 100h/l chiếm 54,4%; có 57,6% bạch cầu giảm < 5.000/mm3. Có 38,6% có T-CD4 < 100 tế bào/mm3.
Nguyên nhân tử vong vì vào viện muộn do không được phát hiện sớm hoặc từ chối điều trị ARV (66,6% vào viện giai đoạn lâm sàng 4). Nhiều nhiễm trùng cơ hội trên một bệnh nhân (83,3% bệnh nhân có từ 2 nhiễm trùng cơ hội trở lên), chưa được điều trị ARV (78,6%).
Huy Hoàng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 231

Số lượt truy cập: 9360854

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang