Người mẹ khi có thai, nồng độ estrogen và progesteron cao, đặc biệt trong 3 tháng đầu và giai đoạn đầu của 3 tháng giữa thai kỳ; kích thích tăng sinh tế bào beta tụy làm tăng tiết insulin kéo theo tăng khả năng dự trữ glycogen ở mô, giảm tạo glucose ở gan, tăng sử dụng glucose ở ngoại vi, dẫn đến đường huyết trong cơ thể tương đối ổn định.

Các bác sĩ chuyên khoa nội tiết lưu ý cần phải tầm soát, xét nghiệm đường huyết cho cả giai đoạn sau của thai kỳ để tránh bỏ sót, dù ở giai đoạn đầu thai kỳ kết quả xét nghiệm đường huyết âm tính. Ở giai đoạn sau của thời kỳ mang thai 3 tháng giữa và 3 tháng cuối, do có sự tăng tiết các nội tiết tố tăng trưởng từ nhau thai, các nội tiết tố này có liên quan đến tình trạng đề kháng Insulin. Nếu lượng Insulin tiết ra không đủ sẽ dẫn đến rối loạn dung nạp đường. Tình trạng này diễn tiến càng nặng khi thai càng lớn, từ đó gây ra biến chứng cho mẹ và thai nhi, nhất là đối với các bà mẹ có yếu tố nguy cơ dễ bị đái tháo đường thai kỳ. Các yếu tố nguy cơ đó là tuổi trên 35, thể trạng béo phì, tiền căn cha mẹ có bị đái tháo đường, tăng huyết áp, bản thân bị đái tháo đường, tiền căn sinh non, con to, tiền căn sảy thai, thai lưu mà không tìm được nguyên nhân.
Về chẩn đoán, sử dụng test 75g đường để chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ cho tất cả các bà mẹ mang thai, có tuổi thai 24-32 tuần. Test dương tính khi các giá trị có một trong các chỉ số cao hơn bình thường: đường huyết lúc đói 5,1mmol/l; đường huyết sau khi ăn 75g đường: 10,0mmol/l và sau 2 giờ 8,5mmol/l.
Bà mẹ mang thai, ở tuổi thai 32 tuần trở đi; lúc này tình trạng rối loạn dung nạp đường đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, trên mẹ và thai nhi, nên việc sử dụng xét nghiệm dung nạp đường để chẩn đoán không còn ý nghĩa nữa.

Các bác sĩ nội tiết lưu ý, những bà mẹ có yếu tố nguy cơ cao, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát sớm ngay ở tuổi thai 16-18 tuần; nếu kết quả âm tính, lặp lại xét nghiệm vào lúc tuổi thai 24-32 tuần; tốt nhất là lúc tuổi thai 28 tuần.
Việc chăm sóc điều trị bà mẹ bị đái tháo đường thai kỳ cần sự tham gia nhiều chuyên khoa: phụ sản, nội tiết, dinh dưỡng và nhi khoa. Trong lúc mang thai nguyên tắc chung điều trị là điều chỉnh chế độ ăn sao cho đường huyết ở mức 5,7-6,1 mmol/l. Các bà mẹ cần xây dựng cho mình một chế độ dinh dưỡng, vận động, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Năng lượng nhu cầu hàng ngày trung bình 1800-2500 calo; khẩu phần ăn cần giảm mỡ, giảm bột và tăng chất xơ. Các bữa ăn cần được chia làm nhiều lần trong ngày, tránh tình trạng ăn no quá hay để đói quá. Khi thực hiện đúng theo nguyên tắc trên thấy đường huyết ổn định thì không cần dùng thuốc; thực hiện theo đúng chế độ và thử đường huyết mỗi tuần một lần. Trong trường hợp đường huyết vẫn cao, phải điều trị bằng Insulin có tác dụng kéo dài và theo dõi đường huyết mỗi ngày vào buổi sáng lúc nhịn đói.
Bà mẹ bị đái tháo đường thai kỳ cần khám thai mỗi 2 tuần một lần, cân nặng, đo huyết áp, xét nghiệm chức năng gan, chức năng thận, phát hiện những bất thường khác nếu có để điều trị kịp thời; đánh giá sức khỏe thai bằng siêu âm Doppler, siêu âm 4 chiều, đo monitoring sản khoa khi tuổi thai từ 36 tuần trở đi.
Trong chuyển dạ, nếu đường huyết mẹ ổn định, sẽ đẻ thường theo ngả âm đạo; trừ những trường hợp có chỉ định mổ lấy thai. Trong lúc chuyển dạ sinh, cần theo dõi đường huyết mỗi 2 giờ/lần; điều trị bằng Insulin khi đường huyết tăng trên 6,8mmol/l.
Sau khi sinh, mẹ và bé cần được theo dõi đường huyết, phòng tránh nguy cơ hạ đường huyết. Bà mẹ cần có chế độ dinh dưỡng hợp lý, tiếp tục tầm soát đái tháo đường từ tuần thứ 6 trở đi sau sinh.
Các bác sĩ nội tiết lưu ý, bệnh lý đái tháo đường thai kỳ chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm B gây ảnh hưởng lớn đến mẹ và thai nhi; tác hại cho cả mẹ và sự phát triển tinh thần, thể chất của trẻ sau này. Do vậy cần có những biện pháp phòng ngừa cho tất cả phụ nữ có kế hoạch sinh con, đặc biệt là những phụ nữ thuộc nhóm nguy cơ. Việc phòng ngừa nhằm không bị mắc bệnh đái tháo đường hoặc hạn chế tối đa bệnh lý đái tháo đường thai kỳ, giúp phòng ngừa những hậu quả cho cả mẹ và con. Người mẹ cần ăn thực phẩm nhiều chất xơ, có tác dụng làm chậm hấp thu glucose từ ruột, giảm sự tăng đường huyết sau ăn. Chất xơ có nhiều trong rau xanh, trái cây không ngọt và đậu khô. Chất axit béo có trong các cá biển như cá thu, cá cơm, có tác dụng bảo vệ hệ thống tuần hoàn. Bông cải xanh, giá đậu, đậu Hà Lan giúp tăng cường sử dụng glucose và kiểm soát đường huyết. Các loại vitamin E, C, nhóm B, muối khoáng, kẽm, magie giúp tăng cường miễn dịch, tăng cường tiêu thụ glucose để đường huyết không tăng. Các bác sĩ cho rằng bà mẹ mang thai nên ăn nhiều bữa trong ngày để không làm tăng đường máu quá nhiều sau khi ăn và hạ đường máu quá nhanh lúc xa bữa ăn, ăn 3 bữa chính và 1-2 bữa ăn phụ. Nên ăn thịt nạc, cá, sữa không béo, không đường. Giảm ăn các thực phẩm bánh kẹo, trái cây ngọt, kem, chè; giảm ăn mặn và các thực phẩm chế biến sẵn nhiều muối để phòng ngừa tăng huyết áp. Giảm uống nước ngọt, càfê, chè đặc, nước ép trái cây ngọt, không uống rượu, bia. Đi bộ là hoạt động vận động tốt cho mẹ, nhưng không nên đi bộ khi cơ thể mệt mỏi, vận động nhẹ nhàng, vừa sức, tránh thở dốc.
Mai Trang