[Đăng ngày: 26/11/2018]
Theo các chuyên gia gây mê hồi sức, kiểm soát đường thở là yếu tố quyết định trong gây mê hồi sức, đứng trước bệnh nhân có đường thở khó cần phải phẫu thuật, cách thức thông khí làm sao cho phù hợp để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

Những vấn đề liên quan đến đường thở thường dẫn đến các tai biến nặng hoặc tử vong. Trong phẫu thuật các khối u vùng họng, thanh quản, ngoài các tiêu chuẩn thông khí và đặt ống khó, bản thân khối u cũng là một yếu tố khó, nó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây cản trở thông khí. Các tác giả trong nước và trên thế giới, nghiên cứu thấy tỷ lệ đặt ống nội khí quản khó trên bệnh nhân có bệnh lý về vùng họng, thanh quản là từ 10- 30%. Do đó để phát triển tốt các vấn đề kiểm soát hô hấp trên bệnh nhân có bệnh lý họng, thanh quản, người gây mê phải có một số kiến thức nhất định về bệnh lý họng, thanh khí quản như vị trí, kích thước tổn thương, tưới máu, mức độ di động, độ xâm lấn, mức độ cản trở đường thở. Người gây mê phải sử dụng thành thạo các thiết bị kiểm soát đường thở và lựa chọn được phương pháp nào phù hợp với hoàn cảnh. Sử dụng nội soi mềm được coi là tiêu chuẩn vàng để đặt ống nội khí quản khó nói chung, nhưng một số nghiên cứu của các tác giả trên thế giới báo cáo không phải tất cả các trường hợp đều thành công đặc biệt các bệnh nhân có khối u vùng họng, thanh quản, do đó sử dụng nội soi mềm trong lĩnh vực này còn nhiều bàn cãi. Sử dụng máy nội soi bán cứng SensaScope để đặt ống nội khí quản là phương pháp mới trong kiểm soát đường thở khó, phương pháp này đã được sử dụng và nghiên cứu ở một số nước trên thế giới nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về bệnh lý tai mũi họng.

Từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Phú Vân cùng cộng sự Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương đã thực hiện nghiên cứu tiến cứu, can thiệp lâm sàng và so sánh báo cáo đề tài “Nghiên cứu so sánh sử dụng SensaScope với fibroscope để đặt ống nội khí quản trên bệnh nhân có khối u vùng họng, thanh quản”.

Về tiến hành nghiên cứu, tác giả cho biết bệnh nhân được khám trước gây mê để xác định các yếu tố đặt ống nội khí quản khó và dựa vào các thang điểm đánh giá. Các trường hợp này gây mê như thường quy để đặt ống nội khí quản, chuẩn bị sẵn các phương tiện cấp cứu đường thở như bộ mở khí quản... 

Chia bệnh nhân thành 2 nhóm ngẫu nhiên:
Nhóm F: Đặt ống nội khí quản bằng bộ nội soi phế quản mềm (Firoscope).
Nhóm S: Đặt ống nội khí quản bằng bộ nội soi bán cứng (SensaScope).

BS Nguyễn Phú Vân báo cáo phân tích, nhóm F có 264 bệnh nhân và nhóm S có 265 bệnh nhân tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu nhóm F là 54,3; nhóm S là 56,3.

Số lượng bệnh nhân, tuổi, giới, chiều cao, cân nặng, BMI, các nhóm bệnh cần phẫu thuật, các yếu tố đánh giá đường thở ở 2 nhóm là như nhau, điều này cho thấy có sự đồng nhất các yếu tố tiên lượng đặt ống nội khí quản khó ở 2 nhóm. Khi Cormack-Lehane độ 3 hoặc độ 4, nghĩa là không quan sát được thanh môn thì tỷ lệ đặt ống thất bại của Nhóm F cao hơn Nhóm S có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Vì trong trường hợp này sụn nắp bị đẩy sập xuống trước và che thanh môn, thiết bị ở Nhóm S có thể bẩy được sụn nắp để tiếp cận thanh môn do thiết bị này có đầu tận cùng có bản lề uốn lượn được. Trong khi thiết bị ở Nhóm F thì không thể nâng được sụn nắp, do đó khả năng tiếp cận thanh môn khó khăn nên tỷ lệ thất bại cao hơn. Bệnh nhân có u thanh quản thì có tỷ lệ đặt ống nội khí quản khó cao ở nhóm nội soi ống mềm với p=0,001, do khối u vùng thanh quản gây hẹp và xơ cứng dây thanh do đó ống mềm dù có tiếp cận được nhưng không thể đi qua được vùng hẹp cứng do đó gây đặt ống khó. Nhóm F có 18 trường hợp đặt ống thất bại, chủ yếu là ở bệnh nhân ung thư thanh quản, đặc biệt có 4 trường hợp ung thư thanh quản tái phát. Thất bại chủ yếu do thâm nhiễm cứng dây thanh và thanh môn hẹp chỉ còn dưới 25%, nên không đẩy được đầu ống soi qua khe hở thanh môn vì ống soi mềm và bị cuộn. Trong số này có 3 trường hợp đẩy được đầu ống soi qua thanh môn nhưng không thể đẩy được ống nội khí quản do thanh môn hẹp cứng. Trong 18 trường hợp này thì có 11 trường hợp chuyển sang Nhóm S và có 10 trường hợp thành công và 1 trường hợp thất bại phải đặt ống có sử dụng que dẫn cứng và dùng lực đẩy mạnh mới vượt được quan khe thanh môn. Có 5 trường hợp dùng đèn soi thanh quản đặt ống bằng que dẫn cứng, dùng lực đẩy và đều thành công. Có 2 trường hợp phải mở khí quản do u xâm lấn cứng thanh môn, không quan sát được thanh môn, đã đặt ống nhiều lần thất bại và có chảy máu. Nhóm S cũng có 1 trường hợp đặt ống thất bại do khối u xâm lấn dễ chảy máu, biến dạng thanh môn do đó không tìm được thanh môn. Tỷ lệ đặt ống thành công Nhóm F lần đầu là 234/264= 88,6%, tổng thành công là 93,2%. Nhóm S lần đầu là 254/265= 95,8% và tổng thành công là 99,6%. Tỷ lệ thất bại của Nhóm F là 18/264= 6,8%, của Nhóm S là 1/265= 0,4%. Tỷ suất chênh OR=17 với p<0,001, điều này có nghĩa là tỷ lệ đặt ống nội khí quản thất bại của Nhóm F cao gấp 17 lần Nhóm S. Thời gian đặt thành công ống nội khí quản của nhóm S là 15,84±19,48 trong khi nhóm F là 27,52±31,11, như vậy sử dụng SensaScope đặt ống nội khí quản nhanh hơn sử dụng nội soi mềm có ý nghĩa thống kê với p<0,001. 

BS Vân lưu ý, do sử dụng SensaScope ít thao tác hơn so với nhóm nội soi mềm và một số tình huống thì nội soi mềm trở nên khó khăn hơn do không nâng được khối u và không đẩy được qua chỗ hẹp cứng và bị cuộn ống soi như đã bàn luận. Nghiên cứu của tác giả cũng giống nghiên cứu của Biro khi sử dụng nội soi SensaScope hoặc nội soi mềm để đặt ống nội khí quản thì có sự cải thiện rất rõ sự quan sát thanh môn và từ đó đặt được ống nội khí quản dễ dàng hơn, sự thay đổi trường quan sát này là có ý nghĩa thống kê với p <0,001. Không có trường hợp nào ở 2 nhóm có SpO2 < 90%, ngoài ra trong các kết quả nghiên cứu của chúng tôi chưa gặp trường hợp nào bị ảnh hưởng đến các chức năng hoặc tai biến do sử dụng SensaScope hoặc nội soi mềm. Theo Biro khi sử dụng SensaScope đặt ống nội khí quản thì không ảnh hưởng đến nhịp tim và huyết động, đặt ống nội khí quản bằng SensaScope là một kỹ thuật sử dụng dễ dàng, an toàn trong kiểm soát đường thở.

Ngô Thanh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 206

Số lượt truy cập: 9353298

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang