
Bệnh lý tủy răng sữa là một trong các bệnh lý răng miệng thường gặp ở trẻ em mà nguyên nhân chủ yếu do sâu răng không được điều trị.
Tủy thường bị viêm mãn tính dẫn đến hoại tử tủy, gây các biến chứng tại chỗ như các biến chứng vùng quanh chóp răng, viêm mô tế bào, biến chứng xa ở khớp, tim … duy trì hoặc làm nặng thêm những bệnh đó.
Bệnh lý tủy răng sữa cũng là một trong các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến mất răng sữa sớm ở trẻ nhỏ, ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ, suy giảm chất lượng cuộc sống của trẻ nhỏ. Nghiên cứu của Vũ Thị Mỹ Anh ở trẻ 6 tuổi cho thấy riêng ở nhóm răng hàm: 0,5% viêm tủy không có khả năng hồi phục, 7,9% tủy hoại tử, 2,3% tủy hoại tử có biến chứng vùng cuống, 4,6% răng mất do sâu.
Theo Fortier.J.P, Camp.J.H, bệnh lý tủy răng sữa có những đặc điểm khác biệt so với răng vĩnh viễn như: triệu chứng nghèo nàn, có nhiều ống tủy phụ từ sàn buồng tủy đến vùng khoảng giữa chẽ chân răng nên hay gặp ổ áp-xe ngay dưới đường viền lợi, vùng chóp răng sữa cách mầm răng vĩnh viễn một lớp xương mỏng, ít khi gặp u hạt ở vùng chóp răng sữa.
Chẩn đoán bệnh lý tủy răng sữa gặp nhiều khó khăn do các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau. Chẩn đoán cần dựa vào lâm sàng và cận lâm sàng để xác định tình trạng bệnh lý tủy răng, giai đoạn sinh lý răng, tình trạng mô quanh răng, tình trạng mầm răng vĩnh viễn bên dưới … giúp đưa ra chỉ định điều trị thích hợp đối với trẻ. Tuy nhiên việc thăm khám thử tủy răng, chỉ định x-quang đôi khi gặp khó khăn do sự hợp tác của trẻ và phụ huynh.
Từ tháng 1/2017 đến tháng 11/2017, nhóm tác giả nghiên cứu Đỗ Minh Hương cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Tình trạng bệnh lý tủy răng sữa trẻ 5 tuổi”. Đối tượng nghiên cứu là trẻ 5 tuổi Trường mầm non 19/5 TP Thái Nguyên.
Nhóm nghiên cứu thu thập số liệu, triệu chứng cơ năng được xác định thông qua hỏi bệnh phụ huynh và trẻ. Khám tất cả các răng từ cung răng 1, 2, 3, 4. Gõ răng để xác định cảm giác đau khi gõ. Đổi màu răng được thực hiện bằng cách so sánh với màu sắc của các răng bên cạnh và răng đối chiếu. Xác định tính sống của tủy răng thông qua cảm giác của bệnh nhi khi thăm khám, làm sạch đáy lỗ sâu bằng cây nạo ngà hay tay khoan nhanh. Chỉ số Kappa đánh giá độ tin cậy của việc khám răng đạt mức tốt (KAPPA = 0,80).

Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, có 348 trẻ 5 tuổi được khám và chẩn đoán bệnh lý tủy răng dựa vào các triệu chứng lâm sàng, kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ trẻ bị bệnh lý tủy răng cao (21.6%). Đây là vấn đề sức khỏe răng miệng cần được quan tâm vì trẻ mắc bệnh có thể bị ảnh hưởng chất lượng cuộc sống do đau, ăn nhai kém. Tỷ lệ này cao hơn trong nghiên cứu của Vũ Thị Mỹ Anh vì nghiên cứu của tác giả đánh giá toàn bộ các răng sữa trong khi nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Mỹ Anh chỉ nghiên cứu trên nhóm răng hàm sữa.
Răng mắc bệnh lý tủy răng sữa trầm trọng nhất là nhóm răng hàm hàm dưới trong khi đây không phải là nhóm răng mọc sớm nhất trong khuôn miệng. Điều đó cho thấy nguy cơ bị mắc bệnh lý của nhóm răng hàm sữa hàm dưới là rất cao. Nguyên nhân có thể được lý giải là do răng hàm sữa với cấu trúc hố rãnh dễ làm lắng đọng thức ăn, nguy cơ sâu răng cao, cùng với đó là do các răng này nằm phía bên trong cung hàm nên khó phát hiện các biểu hiện bệnh lý giai đoạn sớm hơn dẫn đến nguy cơ cao bị bệnh lý tủy răng. Bên cạnh đó, chiều dày men ngà ở răng sữa mỏng hơn răng vĩnh viễn nên nguy cơ sâu răng dẫn đến bệnh lý tủy răng cũng cao hơn. Đây là vấn đề sức khỏe răng miệng cần được cảnh báo cho các bậc phụ huynh vì các răng này cần được tồn tại trong khuôn miệng để đảm nhận chức năng ít nhất trong 4 năm nữa.
Triệu chứng bệnh lý tủy răng ở trẻ em nghèo nàn. Viêm tủy răng được ghi nhận ở 34.1% răng bệnh lý nhưng tiền sử đau chỉ gặp ở 21.4%, đau khi thăm khám và gõ đau gặp ở 100% răng viêm tủy. Kết quả nghiên cứu này tương tự như kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Mỹ Anh, Trần Thanh Bình, Nguyễn Thị Vân: 100% bệnh nhân viêm tủy có đau khi thăm khám. Tủy hoại tử có biến chứng cấp gặp ở 21 răng nhưng chỉ có 23.7% răng đã từng được điều trị (nhưng chưa thành công nên bệnh lý tái phát hoặc trầm trọng hơn). 42.9% răng bị đau và đau khi thăm khám, 47.6% răng đổi màu, 100% răng có sưng nề vùng lợi tương ứng nhưng không có trẻ nào bị sốt. Những trẻ này vẫn đi học và tham gia đầy đủ các hoạt động tại lớp học, đây có thể là nguyên nhân khiến cho các bậc phụ huynh mất cảnh giác, coi nhẹ tình trạng bệnh lý răng miệng của trẻ, không đưa trẻ đi khám và điều trị kịp thời.
Tác giả nghiên cứu có kết luận 21.6% trẻ 5 tuổi bị bệnh lý tủy răng sữa trong đó 100% nguyên nhân là do sâu răng.
Trong các răng bị bệnh lý tủy răng: 15.7% viêm tủy có hồi phục, 18.4% viêm tủy không hồi phục, 46.4% tủy hoại tử, 8.0% tủy hoại tử biến chứng cấp, 11.5% tủy hoại tử biến chứng mạn.
Triệu chứng bệnh lý tủy răng sữa nghèo nàn: 21.8% răng bệnh lý tủy có tiền sử đau. Răng bị tủy hoại tử 69.4% lỗ sâu hở tủy, 49.6% đổi màu răng, 100% gõ không đau, 100% vùng lợi tương ứng bình thường. Ngoài ra, 100% bệnh nhân tủy hoại tử biến chứng cấp tính với biểu hiện sưng vùng lợi tương ứng, 50% bệnh nhân tủy hoại tử biến chứng mạn có lỗ dò tương ứng.
Trần Mai