
Khò khè là một triệu chứng rất hay gặp ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, khò khè không đơn thuần chỉ là một triệu chứng mà nó có đặc điểm lâm sàng rất đa dạng và đi kèm với nhiều triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào từng nguyên nhân.
Nghiên cứu của Martinez và cộng sự cho thấy tỷ lệ trẻ em có ít nhất một lần khò khè trong 6 năm đầu đời là 49,5%. Nghiên cứu chỉ ra 25% trẻ em có ít nhất một đợt khò khè trước 1 tuổi, 35% trẻ em có ít nhất một đợt khò khè trước 3 tuổi, và 50% trẻ em có ít nhất một đợt khò khè trước 6 tuổi.
Từ tháng 4/2012 đến tháng 8/2013, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Thị Hà - Đại học Y Hà Nội đã tiến hành đề tài “Đặc điểm khò khè tái diễn và dai dẳng ở trẻ dưới 5 tuổi”. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân từ 1 tháng tuổi đến 60 tháng tuổi.
Bệnh nhân được bác sỹ nhi khoa hỏi và khám bệnh khẳng định có triệu chứng khò khè. Bệnh nhân được xác định có khò khè tái diễn và/hoặc khò khè dai dẳng theo tiêu chuẩn: Số đợt khò khè ≥ 3 đợt trong vòng 6 tháng và/hoặc số ngày khò khè trong đợt này kéo dài> 2 tuần.
Tiêu chuẩn loại trừ là những trường hợp bệnh nhân bị bệnh phổi mạn tính; Bệnh nhân có di chứng thần kinh khác.
Theo tác giả Nguyễn Diệu Thúy, có 102 bệnh nhi từ 1 tháng đến 5 tuổi đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 12 tháng, bệnh nhi nhỏ nhất là 1 tháng tuổi và bệnh nhi lớn nhất là 5 tuổi. Số trẻ trai bị khò khè tái diễn và hoặc dai dẳng nhiều gấp 2 lần so với trẻ gái. Theo một lý giải trẻ trai thường có tính mẫn cảm với các dị nguyên đường hô hấp nhiều hơn so với trẻ gái nên thường tăng phản ứng đường thở hơn. Một thực tế cho thấy trẻ trai cũng hay mắc các bệnh lý đường hô hấp nhiều hơn so với trẻ gái.
Kết quả nghiên cứu đặc điểm trẻ khò khè tái diễn đơn thuần chiếm tỷ lệ cao nhất gần 60%, nhóm trẻ khò khè dai dẳng đơn thuần chiếm hơn 30%, nhóm kết hợp chiếm đến 10%. Bs Thúy phân tích, khò khè đơn thuần chỉ là một triệu chứng có thể gặp ở rất nhiều bệnh lý khác nhau do đó khò khè có thể đi kèm các triệu chứng khác nhau tùy theo nguyên nhân gây bệnh. Bệnh nhi ngoài triệu chứng khò khè còn kèm theo các biểu hiện khác của đường hô hấp như ho, hắt hơi sổ mũi. Ho là triệu chứng chính và hay gặp nhất với tỷ lệ 98%. Biểu hiện viêm long đường hô hấp trên gặp ở một nửa bệnh nhi trong nghiên cứu, đây là dấu hiệu gợi ý tình trạng nhiễm vi rút. Ngoài ra nghiên cứu còn phát hiện 3 bệnh nhi (2,9%) có biểu hiện thở rít với tính chất dai dẳng, thay đổi theo tư thế, tăng dần theo thời gian kèm theo biểu hiện khó thở tùy mức độ. Tất cả các bệnh nhi này đều được chẩn đoán khò khè dai dẳng do bất thường đường thở.
BS.Thúy cũng báo cáo thở rít là một dấu hiệu hiếm gặp và điển hình gợi ý nguyên nhân gây khò khè tái diễn do bất thường đường thở. Trong 102 bệnh nhi khò khè nhập viện, có 41,2% trẻ có dấu hiệu khó thở và rút lõm lồng ngực, đây là dấu hiệu nặng đối với trẻ. Bên cạnh các triệu chứng của đường hô hấp, nôn cũng là một triệu chứng hay gặp chiếm 33%. Nôn gặp ở nhiều bệnh lý khác nhau nhưng hay gặp nhất ở nhóm trào ngược dạ dày thực quản với tỷ lệ 85,7%. Như vậy, bệnh cảnh lâm sàng của bệnh nhân khò khè tái diễn và/hoặc dai dẳng rất đa dạng và không điển hình, tuy nhiên cần khai thác bệnh sử và thăm khám lâm sàng tỉ mỉ sẽ giúp người cán bộ y tế định hướng tới nguyên nhân từ đó chỉ định những xét nghiệm thăm dò phù hợp.
Theo BS. Nguyễn Diệu Thúy, các bệnh nhân khò khè tái diễn và/hoặc dai dẳng được chỉ định các xét nghiệm thăm dò khác nhau nhằm tìm nguyên nhân gây khò khè. Tỷ lệ bệnh nhân được thực hiện soi phế quản là 19 trong 102 bệnh nhân chiếm 18,6%, trong số đó có 16 bệnh nhi có kết quả bất thường bao gồm 7 bệnh nhi dị dạng đường thở (43,75%), 8 bệnh nhi viêm cấp niêm mạc đường thở (50%), 1 bệnh nhi dị vật đường thở (6,25%). Số bệnh nhân soi có kết quả bất thường gặp nhiều nhất ở nhóm dưới 12 tháng tuổi (12/16 bệnh nhân), tiếp theo là nhóm từ 12 đến 36 tháng (3/16 bệnh nhân), nhóm trên 36 tháng tuổi chỉ có 1 bệnh nhân.
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu, kết quả chụp cắt lớp cho thấy có gần 90% phát hiện bất thường ở nhóm bất thường tại đường thở và nhóm bất thường do chèn ép đường thở. Những bệnh nhân, ở nhóm bất thường đường thở có triệu chứng khò khè sớm, chủ yếu gặp ở lứa tuổi dưới 12 tháng trong đó 60% dưới 6 tháng. Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh chỉ định chụp CT trong các trường hợp nghi ngờ bất thường đường thở có giá trị lớn trong việc tìm ra nguyên nhân gây khò khè dai dẳng ở trẻ nhỏ.
Trong nghiên cứu có 22 bệnh nhân được thực hiện siêm âm bụng khi bị nghi ngờ bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản. Kết quả siêu âm chẩn đoán luồng trào ngược chiếm 68,2%, trong đó chủ yếu gặp ở trẻ em dưới 12 tháng (86,7%).
Tác giả nghiên cứu tiến hành tìm vi rút trong dịch hầu họng với hai loại virus là Rhinovirus và virus hợp bào hô hấp (RSV) vì đây là hai loại virus hay gây khò khè ở trẻ nhỏ. Tỷ lệ tìm thấy Rhinovirus là 42,5%, RSV là 1,4%. Sở dĩ tỷ lệ nhiễm Rhinovirus cao hơn rất nhiều so với RSV vì Rhinovirus có liên quan đến khò khè tái diễn mà đối tượng nghiên cứu ở đây là trẻ khò khè tái diễn và/hoặc dai dẳng.
Thanh Tùng