Bệnh lý Moyamoya là một rối loạn tắc nghẽn mạch máu não mãn tính, được định nghĩa là sự tắc nghẽn tiến triển của những mạch máu trong sọ. Hẹp bắt đầu từ động mạch cảnh đoạn trong sọ và tiến triển liên quan đến động mạch não trước và động mạch não giữa. Khi những động mạch này hẹp ngày càng nhiều và sự xuất hiện của mạng lưới mạch máu tuần hoàn bàng hệ ở vùng hạch nền cho hình ảnh “làn khói” trên chụp mạch máu não gọi là mạch máu moyamoya.
Ở Châu Á bệnh moyamoya chiếm tỷ lệ cao hơn những nơi khác. Bệnh tiến triển ở cả lứa tuổi người lớn và trẻ em, biểu hiện lâm sàng thiếu máu não thường xảy ra chủ yếu ở trẻ em do sự phát triển không đủ mạng lưới mạch máu bàng hệ, nhưng ở người lớn bệnh biểu hiện chủ yếu là tình trạng xuất huyết não do vỡ mạch máu bàng hệ ở vùng hạch nền. Nguyên nhân chính xác của bệnh lý moyamoya chưa được xác định. Bệnh lý mạch máu mãn tính có khuynh hướng không đáp ứng với điều trị nội khoa.
Năm 1967, sau những phát minh những dụng cụ vi phẫu thuật , Yasargil và Donaghy thực hiện ca phẫu thuật bắt cầu động mạch não trong và ngoài sọ điều trị thiếu máu não. Năm 1973, Kikuchi và Karasawa dùng kỹ thuật bắt cầu động mạch não điều trị bệnh moyamoya.
Kỹ thuật bắt cầu động mạch trực tiếp và gián tiếp được thực hiện với mục đích tạo tuần hoàn mới, làm giảm sự hình thành tuần hoàn bàng hệ, và phục hồi áp lực tưới máu não. Phẫu thuật bắt cầu động mạch não trực tiếp có thể điều chỉnh ngay sự cung cấp máu cũng như tái tạo tuần hoàn mới. Nhìn chung đáp ứng với điều trị phẫu thuật rất rõ ràng, đặc biệt làm giảm nguy cơ thiếu máu não tái phát hoặc tái xuất huyết não.
Từ tháng 01/2009 đến tháng 12/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Minh Trí và Trần Quyết Tiến, Bệnh viện Chợ Rẫy Tp. Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lâm sàng chỉ định phẫu thuật bệnh lý Moyamoya”.
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu, có 35 trường hợp phẫu thuật trên 30 bệnh nhân bị bệnh Moyamoya tại khoa ngoại thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy. Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, hình ảnh học cộng hưởng từ, chụp cắt lớp vi tính não, xạ hình tưới máu não (spect scan) có thuốc giãn mạch (Diamox test), chụp mạch máu não xóa nền 4 động mạch não và 2 động mạch cảnh ngoài. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Moyamoya dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế và của Nhật Bản.
Chỉ định phẫu thuật bao gồm: Bệnh Moyamoya được chẩn đoán theo hướng dẫn Bộ Y tế và Nhật Bản; Đánh giá tình trạng xuất huyết não trên CT Scan, nhũn não trên MRI; Triệu chứng thiếu máu não nặng, tái phát, không đáp ứng với điều trị nội khoa; Có bằng chứng suy giảm tưới máu não trên hình ảnh xạ hình có Diamox test.
Theo phân tích của BS. Trần Minh Trí, bệnh nhân được đánh giá tình trạng lâm sàng 1 tuần sau phẫu thuật, sau đó theo dõi 3 tháng, 12 tháng. Thực hiện DSA hoặc MSCT mạch máu não được chụp sau mổ 1 tuần đến 1 tháng để đánh giá cầu nối sau mổ. Xạ hình tưới máu não được chụp kiểm tra sau 6-12 tháng. Đối với những bệnh không đến tái khám nhóm nghiên cứu điện thoại hỏi về tình trạng bệnh.
Từ 01/2009 đến tháng 12/2014 nhóm nghiên cứu phẫu thuật 30 trường hợp bệnh Moyamoya, thời gian theo dõi lâu nhất 75 tháng, ngắn nhất 1 tháng sau phẫu thuật, và bước đầu ghi nhận kết quả khả quan. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 35,9 ± 12,6 (7-65 tuổi), tỷ lệ nam/nữ là 1,3.
Bệnh nhân biểu hiện đột quị chiếm tỷ lệ cao nhất 86,7% (26/30), kế đến là triệu chứng cơn thoáng thiếu máu não chiếm tỷ lệ 10% (3/30). Dấu thần kinh khu trú chiếm tỷ lệ 3,3% (1/30), không ghi nhận triệu chứng động kinh trong nghiên cứu này.
BS. Trí cho biết, bệnh nhân mắc bệnh Moyamoya thường biểu hiện với triệu chứng, thiếu máu não và xuất huyết não. Cơn thiếu máu não thường thấy ở trẻ em, ngược lại xuất huyết não thường xảy ra ở người lớn. Tần suất xuất huyết não trong nghiên cứu ghi nhận 100% ở người lớn, 30,3% ở trẻ em. Lý do tại sao xuất huyết não thường xảy ra ở người lớn được cho là do sự tăng sinh mạch máu bất thường ở vùng hạch nền (mạch máu moyamoya) và có tính đàn hồi kém hơn so với trẻ em.
Mục đích chính của phẫu thuật bắt cầu động mạch não, nhằm ngăn chặn cơn thiếu máu não tái phát hoặc đột quị do xuất huyết não trong tương lai, và giới hạn sự tiến triển của bệnh.
Theo BS. Trí, đối với những bệnh nhân bị bệnh Moyamoya, sau khi điều trị nội khoa vẫn không cải thiện cơn thiếu máu não thoáng qua, hoặc có xuất huyết não, phẫu thuật bắt cầu động mạch nên được chon lựa nhằm phòng ngừa xuất huyết não hoặc cơn thiếu máu não tái phát. Trong nghiên cứu, BS. Trí cho biết bước đầu với số lượng nhỏ, tuy kết quả có ghi nhận khả quan so với các nghiên cứu khác, nhưng vẫn cần nghiên cứu đầy đủ với số lượng bệnh lớn hơn cũng như thời gian theo dõi lâu hơn về kết quả điều trị phẫu thuật bệnh Moyamoya ở Việt Nam.
BS. Trần Minh Trí nhấn mạnh, tỷ lệ thành công của kỹ thuật này rất cao, và cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân, và giảm được nguy cơ xuất huyết não tái phát hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua. Theo nghiên cứu, tỷ lệ thành công cao sau một thời gian dài theo dõi đến 6 năm, nguy cơ phẫu thuật thấp, cải thiện được chất lượng sống của bệnh nhân.
Hoa Phượng