[Đăng ngày: 06/05/2016]
    Tác giả Đào Huyền Quyên cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu phân tích hóa sinh nước tiểu theo các phương pháp khác nhau.
    Nghiên cứu được thực hiện trong năm 2015, tác giả đã chọn 118 mẫu nước tiểu của hai nhóm: nhóm đi kiểm tra sức khỏe và nhóm bệnh có kết quả xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu bất thường.
    Theo phân tích của tác giả Đào Huyền Quyên, máy phân tích nước tiểu tự động xác định lượng protein có trong nước tiểu dựa trên nguyên lý bán định lượng: trên thanh giấy thử, ở vùng phản ứng với protein có chứa hỗn hợp dung dịch đệm citrat và chỉ thị màu tetrabromophenol blue (pH=3), nếu có protein nó sẽ chuyển màu từ vàng sang xanh ve nhạt rồi đậm. Phương pháp này có nhược điểm là độ nhạy que thử kém, tại mức protein niệu 30mg/dl hoặc cao hơn, que thử có thể tin cậy được, nhưng kết quả dưới mức này là khó dự đoán hơn. Que thử có thể phát hiện protein trong nước tiểu với độ nhạy 150mg/l, nhạy cảm với albumin và kém nhạy cảm với các protein khác. Ngoài ra, phương pháp này không thể phát hiện được hết các loại protein có trong nước tiểu, ví dụ các loại protein trước thận (tức là protein Bence – Jones, myoglobin, hemoglobin) và các protein niệu hình ống, microalbumin niệu, tất cả đều thoát khỏi sự phát hiện của que thử. Điều này được thể hiện rất rõ trong nghiên cứu này trên các mẫu nước tiểu của bệnh nhân đa u tủy xương, bằng phương pháp tổng phân tích đã không phát hiện được. Với các mẫu nước tiểu của bệnh nhân về thận như thận hư, suy thận chỉ có phương pháp định lượng bằng TCA và trên máy AU 2700 cho kết quả nồng độ protein niệu rất cao. Có những trường hợp mẫu định lượng cao hơn kết quả tổng phân tích tới 20 lần. Kết quả chính xác về nồng độ protein niệu sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng trong việc chẩn đoán, theo dõi và tiên lượng điều trị trong nhóm bệnh thận này.
    Tác giả nghiên cứu đã sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để đánh giá sự tương quan giữa hai phương pháp định lượng trên máy AU 2700 và bằng TCA 5%: có phương trình là Y = 0,8385X + 0,3928; r = 0,98. (Với a xấp xỉ = 1, b = 0,3, chứng tỏ hai kỹ thuật này tương đương nhau.
    Giữa phương pháp bán định lượng và định lượng bằng TCA 5%: có phương trình là Y = 2,1528X + 0,0466; r = 0,42. Giữa phương pháp bán định lượng và định lượng trên máy AU 2700: có PT là Y = 1,9844X + 0,0429; r = 0,45. Nếu coi như phép tính tương quan này được chấp thuận (vì đây không phải là tương quan theo cặp). Điều này chứng tỏ định lượng protein niệu bằng kỹ thuật tổng phân tích, nhìn chung cho kết quả thấp hơn nhiều, với những mẫu bệnh phẩm có kết quả lớn hơn 0,75g/L cần có sự hiệu chỉnh lại nồng độ theo phương trình trên để có đánh giá chính xác hơn. Đặc biệt với các bệnh nhân thuộc hội chứng thận hư.
    Đối với định lượng glucose niệu, tác giả nghiên cứu thực hiện trên máy AU 2700 theo phương pháp hexokinase, từ kết quả glucose niệu thu được trong quá trình nghiên cứu nhận thấy: đa phần kết quả giữa phương pháp bán định lượng (TPT) và định lượng có sự khác biệt không đáng kể (p>0,05). Tuy nhiên vẫn còn một vài mẫu cho kết quả có sự khác biệt khá lớn giữa hai phương pháp.
    Một số mẫu cho kết quả TPT cao hơn nhiều so với kết quả định lượng là do: Phương pháp que thử trên máy phân tích nước tiểu tự động đề sàng lọc glucose trong nước tiểu dựa trên phương pháp glucose oxidase (GOD) với chất sinh màu. Glucose oxidase đặc hiệu cao với beta-glucose, không đặc hiệu với các carbohydrat khác, do vậy mà phương pháp này chỉ xác định được glucose mà không xác định được các đường khác có trong nước tiểu. Bên cạnh đó, phản ứng này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố acid uric, acid ascorbic, bilirubin, và glutathion ức chế phản ứng bởi cạnh tranh với chất sinh màu trong phản ứng với H­2O2, do đó có thể làm kết quả thấp giả tạo. Kết quả âm tính giả có thể xảy ra do acid uric hay ascorbic ức chế phản ứng. Dương tính giả khi nước tiểu nhiễm hydrogen peroxid hoặc các tác nhân oxy hóa mạnh như hypochlorit hay cũng có thể gặp khi có mặt ketones với nồng độ cao trong nước tiểu, ở những bệnh nhân dùng levodopa. Phương pháp định lượng glucose niệu trên máy phân tích hóa sinh tự động AU 2700 dựa trên phương pháp hexokinase. Ngoài glucose hexokinase còn phosphoryl hóa cả fructose và mannose do vậy mà phương pháp này còn xác định được cả fructose và mannose nếu các đường này xuất hiện trong nước tiểu.
    Một số mẫu cho kết quả TPT là 56mmol/l trong khi kết quả định lượng lại cao hơn rất nhiều là bởi: 56mmol/l là kết quả tối đa máy phân tích nước tiểu tự động urisys 2400 đo được, do vậy mà ở những mẫu có nồng độ glucose niệu cao hơn 56 mmol/l thì phương pháp bán định lượng trên máy phân tích nước tiểu tự động không phản ánh kết quả chính xác được. Trường hợp này cần được kiểm tra lại bằng phương pháp định lượng. Trong những trường hợp cần theo dõi nồng độ glucose niệu thì việc chỉ định thêm xét nghiệm định lượng là rất cần thiết.
    Cũng theo tác giả Đào Huyền Quyên, từ kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu cho thấy: Kết quả định lượng hồng cầu, bạch cầu niệu có thể xấp xỉ, cao hơn hoặc thấp hơn nhiều so với kết quả TPT nhưng nhìn chung sự khác biệt là không đáng kể (p>0,05).
    Trường hợp cho kết quả định lượng thấp hơn kết quả TPT là do: Hồng cầu được xác định trên máy phân tích nước tiểu tự động dựa trên nguyên lý: Hemoglobin và hồng cầu (có thể cả Myoglobin) đóng vai trò như một peroxydase tác dụng lên peroxit hydro giải phóng  ôxy hoạt động. Oxy này sẽ oxy hóa chỉ thị màu vùng làm vùng phản ứng chuyển màu từ vàng sang xanh ve. Do vậy mà phương pháp này không hoàn toàn đặc hiệu với hồng cầu niệu, một kết quả dương tính cho biết trong mẫu nước tiểu có thể có hồng cầu niệu hoặc/và hemoglobin niệu hoặc/và myoglobin niệu. Bạch cầu được xác định dựa trên sự có mặt của enzym esterase có tác dụng thủy phân este của indoxyl và indoxyl được giải phóng sẽ phản ứng với muối diazonium để cho một sản phẩm màu tím.
    Trường hợp cho kết quả hồng cầu là 250 cells/µl, bạch cầu là 500 cells/µl trong khi kết quả định lượng cao hơn rất nhiều là do: đây là kết quả tối đa máy phân tích nước tiểu tự động có thể xác định được, do vậy mà những trường hợp này cần có thêm chỉ định đếm số lượng hồng cầu, bạch cầu bằng máy đếm tế bào để có thể nhận định kết quả chính xác.
    Qua những trường hợp trên tác giả nghiên cứu cho rằng kết quả TPT của hồng cầu, bạch cầu trong nước tiểu chỉ là tương đối. Những trường hợp cần theo dõi số lượng hồng cầu, bạch cầu niệu thì việc chỉ định thêm xét nghiệm định lượng là rất cần thiết.
   Nghi Anh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 138

Số lượt truy cập: 9369141

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang