Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Huy Ngọc cùng cộng sự bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ thực hiện nghiên cứu thuần tập mô tả, can thiệp báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm tụy cấp tăng triglyceride máu tại Bệnh viện Đa khoa Phú Thọ”.
Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán VTC tăng TG tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ từ tháng 09/2015 đến tháng 09/2016.

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân vào nghiên cứu: Chẩn đoán VTC: Theo khuyến cáo của hội nghị Tiêu hóa thế giới năm 2006. Tiêu chuẩn là một triệu chứng lâm sàng kèm với ít nhất một trong hai triệu chứng cận lâm sàng (Triệu chứng lâm sàng: cơn đau bụng điển hình; Amylase máu tăng cao > 3 lần so với giá trị bình thường; Chụp cắt lớp vi tính: Chẩn đoán xác định viêm tụy cấp). Xét nghiệm TG > 5,7mmol/l (500mg/dl)-TG được xét nghiệm một lần khi vào viện và xét nghiệm lại sau ăn 12h.
Viêm tụy cấp được chẩn đoán loại trừ do các nguyên nhân khác: sỏi mật, giun chui ống mật, do chấn thương… Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân bị VTC TG < 5,7mmol/l. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thuần tập mô tả, can thiệp. Các bước tiến hành nghiên cứu: chia bệnh nhân ra làm 2 nhóm: Nhóm 1: nhóm VTC có mức TG từ 5,7-11,3mmol/l (500mg/dl); Nhóm 2: nhóm VTC có mức TG > 11,3mmol/l (1000mg/dl). Sang phần điều trị chia nhóm 2 thành 2 nhóm: Nhóm không thay huyết tương (ký hiệu: KoPEX) và nhóm (ký hiệu: PEX) có thay huyết tương. Bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị theo phác đồ VTC tại khoa Hồi sức tích cực Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ.
Về đặc điểm cận lâm sàng, BS Nguyễn Huy Ngọc báo cáo về Amylase máu là xét nghiệm thường dùng nhất trong chẩn đoán VTC, khi nồng độ Amylase máu tăng gấp 3 lần bình thường có giá trị chẩn đoán VTC. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu, tăng Amylase máu trên 3 lần bình thường chiếm 54,1%. Kết quả này thấp hơn hơn nghiên cứu Suvat Vôngphachăn: 93% và Nguyễn Thị Hằng: 86%. Kết quả Amylase máu không tăng và nhỏ hơn 3 lần bình thường là chiếm 48% trong đó Amylase máu không tăng chiếm 20%, kết quả này phù hợp với nghiên cứu Nguyễn Thị Vân Hồng: 46%, Gelrud và Yadav. Xét nghiệm Amylase máu chỉ dùng để chẩn đoán VTC và không dùng để tiên lượng VTC vì amylase thường tăng nhaanh, sớm trong 6-12 giờ đỉnh 24 giờ và trở về bình thường sau vài ngày, đồng thời amylase không chỉ tăng trong bệnh lý VTC mà còn tăng trong những bệnh lý khác như thủng dạ dày, nhồi máu mạc treo ruột. Nếu tổn thương tụy nhiều thì amylase cũng không tăng thậm chí bình thường, nếu tình trạng Amylase máu tăng kéo dài gợi ý có thể có biến chứng cục bộ. Kết quả này thấp hơn các nghiên cứu khác có thể do nồng độ TG máu tăng cao làm cho Amylase máu giảm giả tạo, khi pha loãng máu xét nghiệm có thể nồng độ Amylase máu sẽ tăng cao.

Xét nghiệm huyết học, BS Ngọc cho biết kết quả bạch cầu trung bình chung: 12,38 + 4,531G/l, tăng > 10G/l có 24 bệnh nhân chiếm 64,8%. Số bạch cầu tăng cao > 16G/l theo Ranson là yếu tố tiên lượng nặng trong nghiên cứu có 5 bệnh nhân chiếm 13,5%. Tỷ lệ này cũng phù hợp với 86,5% bệnh nhân sốt nhẹ và không sốt chứng tỏ bệnh nhân khi nhập viện nhiễm khuẩn nhẹ. Đặc biệt trong nhóm nghiên cứu có 1 bệnh nhân giảm bạch cầu 3,7G/l là bệnh nhân nghiện rượu trên 30 năm với lượng rượu uống trung bình 500ml/ngày. Lượng bạch cầu trong nghiên cứu cao nhất là 28,3G/l và thấp nhất là 3,7G/l. Với hemoglobin tăng cao, hematocrit tăng vừa phải, có những bệnh nhân nặng tăng cao đến 0,79l/l kết hợp với tình trạng mạch nhanh, CVP thấp, huyết áp thấp và lượng ở càng thể hiện rõ tình trạng thiếu dịch. Đặc biệt ở nhóm 2 nhiều bệnh nhân nặng hơn nên thiếu dịch nhiều hơn và hemoglobin tăng cao hơn. Vì vậy có những bệnh nhân nhóm nghiên cứu truyền với một lượng dịch lớn lên tới 10800ml.
Về xét nghiệm hóa sinh, lượng TG trung bình chung: 19,88 + 17,38mmol/l, cao nhất 29,12 mmol/l, thấp nhất 6,57mmol/l, lượng TG trung bình của những bệnh nhân được PEX: 20,41 + 6,703mmol/l. Kết quả này thấp hơn nghiên cứu Gubensek: 58,9 + 40,8mmol/l và tương tự Stefanutti: 21,79mmol/l. Đi kèm tăng TG là lượng cholesterol cũng tăng cao trong đó nhóm được PEX: 15,79 + 6,945mmol/l kết quả này thấp hơn nghiên cứu Gubensek: 20,0 + 7,6mmol/l và Stefanutti: 50,10mmol/l. Tăng đường huyết là điều kiện thuận lợi cho tăng lypid máu, kết quả đường huyết trung bình của nhóm nghiên cứu: 11,18 + 6,097mmol/l thấp nhất 3,3mmol/l và cao nhất 35mmol/l, 74,7% bệnh nhân có đường huyết tăng cao > 6,4mmol/l, trong đó 14 bệnh nhân bị đái tháo đường. Số bệnh nhân có đường huyết > 11mmol/l là 29 bệnh nhân chiếm 38,67%, 1 bệnh nhân có đường huyết 35mmol/l vừa nghiện rượu vừa bị bệnh đái tháo đường không được điều trị đứng. Kết quả này cao hơn nghiên cứu Suvat Vôngphachăn: 46,5% và Nguyễn Thị Hằng 14%. Creatinin máu trung bình nhập viện: 144,4 + 46,20mmol/l, có 365 bệnh nhân suy thận. Suy thận trong VTC là hậu quả của tăng tính thấm thành mạch, dịch thoát vào khoang thứ 3 gây nên tình trạng thiếu thể tích tuần hoàn tăng ALOB gây ra suy thận cấp. Vì vậy trong VTC cần phải bù đủ dịch kịp thời để tránh bệnh nhân chuyển từ suy thận chức năng thành suy thận thực tổn. Kết quả này cao hơn nghiên cứu Bùi Văn Khích: 28,9% và Hơn Nguyễn Quang Hải: 47,6%.
Thanh Tùng