Theo BS Lê Minh – Trưởng Khoa Thần kinh, Bệnh viện Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh, hội chứng Parkinson là sự phối hợp của các triệu chứng lâm sàng: cử động chậm, run lúc nghỉ, đơ cứng, mất phản xạ tư thế, tư thế gấp và đóng băng.

Các thể loại rối loạn vận động có liên quan với đột quỵ bao gồm múa vung, múa giật, run, loạn trương lực; hội chứng Parkinson, giật cơ, Asterixis và Tic. Về loạn trương lực (Dystonia), BS Minh cho biết triệu chứng co cơ kéo dài hay từng đợt dẫn đến những cử động hay tư thế (hoặc cả hai) bất thường như lặp đi lặp lại kéo dài, có tính định khuôn và xoắn vặn; có thể có run kèm theo.
Đối với giật cơ sau đột quỵ, là những cử động máy giật cơ nhanh, ngoài ý muốn; giật cơ có thể xuất hiện ở cánh tay, cẳng chân, giọng nói. Não tổn thương ở thùy trán – đính, hạch đáy, trung não; cầu não, tiểu não. Điều trị giật cơ sau đột quỵ thường sử dụng các thuốc Clonazepam; Axit valproic, Levetiracetam; piracetam.
Đối với Asterixis, đó là những gián đoạn không theo nhịp của tình trạng duy trì co cơ dẫn đến sự mất đột ngột tư thế đang duy trì. Asterixis có thể là hệ quả của hoạt động bất thường của quai mạch cerebello brainstem thalamo frontal lobe.
Đối với Run (Tremor) là triệu chứng hay gặp. Theo BS Minh, đa phần run sau đột quỵ thuộc nhóm run khi hoạt động. Các loại run sau đột quỵ gồm run tiểu não; run Holme và run khẩu cái (palatal tremor).
Về run tiểu não thường run cử động hữu ý (intention tremor) và run tư thế (postural tremor). Run tiểu não xuất hiện ở giai đoạn cấp của đột quỵ; do rối loạn chức năng của đường ly tâm của tiểu não.
Đối với run holme, đó là run cử động hữu ý cộng với run lúc nghỉ. Đặc điểm của run Holme là run ở gốc và ngọn chi trên, thường một bên. Biên độ run lớn, tần số < 4,5Hz, có rối tầm và quá tầm đi kèm. Xuất hiện muộn từ 1-24 tháng sau. Thuốc điều trị có thể sử dụng gồm levodopa, clonazepam, proprandol, valproate, levetiracetam, phẫu thuật thần kinh chức năng.
Đối với run khẩu cái là cử động có nhịp chậm của khẩu cái, các cơ khác của họng, thanh quản, mặt dưới và thân.
Về các rối loạn vận động khác, BS Lê Minh báo cáo có cử động rập khuôn; Hội chứng chân không yên và Tic. Đối với cử động rập khuôn (strerotypy) là những cử động có định hình cố định, không có mục đích, lặp đi lặp lại nhiều lần trong một giai đoạn thời gian nhất định. Tổn thương thường có liên quan đến thùy trán, các hạch đáy và tiểu não. Cử động rập khuôn được gặp trong một số bệnh như loạn động muộn, tâm thần phân liệt, chậm phát triển tâm thần, tự kỷ, đột quỵ.
Đối với hội chứng chân không yên (Restless leg syndrome) là một rối loạn vận động của các chi dưới, thường có rối loạn giấc ngủ đi kèm. Bệnh trên lâm sàng nổi bật là tình trạng thôi thúc phải cử động hai chân. Khi bệnh nhân ngồi, hay nằm nghỉ, xuất hiện hoặc trở nặng hơn về chiều tối, thuyên giảm khi cử động hai chân. Nguyên nhân của hội chứng chân không yên gồm nguyên phát vô căn, yếu tố gia đình; Về nguyên nhân thứ phát có thể do thiếu dinh dưỡng, bệnh nội khoa, thai kỳ, bệnh thần kinh ngoại biên, do đột quỵ tổn thương ở hạch đáy, vòng tia, cầu não, đồi thị, bao trong, vỏ não. Điều trị hội chứng chân không yên có thể dùng các thuốc dopaminergic, pregabalin. Thuốc Benzodiazepines, Opioids ít dùng vì gây nghiện cho người bệnh. Bổ sung sắt cũng là thuốc cần dùng cho bệnh nhân.
Đối với hội chứng Tic bao gồm những cử động giật một hay nhiều nhóm cơ ngoài ý muốn (motor Tic); phát âm ngoài ý muốn. Nguyên nhân gây ra Tic do nguyên phát, yếu tố di truyền; do nguyên nhân thứ phát gồm bệnh nhiễm, thuốc; độc chất; bệnh nhiễm sắc thể; chấn thương, đột quỵ. Thuốc điều trị Tic có Tetrabenazine, Guanfacine, Rispericlone, Clonazepam, Topiramafe; Tiêm Botulinum neurotoxin (BTX).
Trần Mai