Ngày 3/11/2016, TS.Lê Tấn Phùng- Phó Giám
đốc Sở Y tế đã chủ trì hội nghị giao ban công tác chẩn đoán điều trị
và phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue.
TS. Phùng yêu cầu Bệnh viện Bệnh Nhiệt
đới chủ trì, tổ chức các lớp tập huấn về hướng
dẫn chẩn đoán, điều trị sốt xuất huyết và tay chân
miệng cho cán bộ y tế của các Bệnh viện trên địa bàn
tỉnh từ tuyến huyện trở lên, kể cả Bệnh viện đa
khoa tư nhân, Bệnh viện Quân Y 87, Bệnh viện 22-12; thành
phần tập huấn do Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới mời hoặc
tham mưu Sở Y tế mời. Các đợt tập huấn phải hoàn thành
trong tháng 11/2016 và báo cáo kết quả thực hiện về Sở
Y tế. Các Bệnh viện, Trung tâm Y tế tổ chức tập huấn
lại cho cán bộ y tế về điều trị sốt xuất huyết,
tay chân miệng sau khi được tập huấn do Bệnh viện Bệnh
Nhiệt đới tổ chức, báo cáo kết quả về Sở Y tế.
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới thiết lập
hỗ trợ từ Bệnh viện Nhi Đồng 2-TP Hồ Chí Minh trong
điều trị sốt xuất huyết trẻ em, lập kế hoạch hoặc
đề xuất theo Đề án 1816 hoặc Đề án Bệnh viện
vệ tinh đối với Bệnh viện Nhi Đồng 2, trình Sở Y tế
quyết định. Duy trì tốt hoạt động của số điện thoại
đường dây nóng hỗ trợ điều trị sốt xuất huyết và
tay chân miệng (3760115- 0914488329), thông báo đến tất cả
các cơ sở điều trị.
Theo các bác sĩ lâm sàng bệnh nhiệt đới, tùy theo
biểu hiện khác nhau của lâm sàng, xét nghiệm cận lâm
sàng để phân loại sốt xuất huyết Dengue (SXHD) gồm 3
mức độ: (1) SXHD không có dấu hiệu cảnh báo, (2) SXHD
có dấu hiệu cảnh báo, (3) SXHD nặng.
Đối với SXHD có dấu hiệu cảnh báo, người
bệnh có các triệu chứng lâm sàng của SXHD kèm theo các
dấu hiệu cảnh báo như: Vật vã, lừ đừ, li bì; Đau bụng
vùng gan hoặc ấn đau vùng gan; Gan to lớn hơn 2cm; Nôn nhiều;
Xuất huyết niêm mạc; Tiểu ít; Thay đổi cận lâm sàng:
Dung tích hồng cầu tăng cao, tiểu cầu giảm nhanh chóng;
Chẩn đoán chắc chắn cần phải có xét nghiệm khẳng định.
Đối với xét nghiệm cận lâm sàng khẳng
định nhiễm vi rút Dengue bao gồm: Xác định sự hiện diện
của vi rút và/hoặc các thành phần của vi rút (1) Cấy
phân lập vi rút trong máu được thực hiện trong 3 ngày
đầu của bệnh; (2) Xét nghiệm RT-PCR thực hiện trong 5
ngày đầu của bệnh; (3) Tìm kháng nguyên NS1 trong 5 ngày
đầu của bệnh với test nhanh hoặc kỹ thuật ELISA.
Tìm đáp ứng huyết thanh lọc
Huyết thanh kép: mẫu lần đầu làm vào
ngày 1 – 5 của bệnh, lần thứ hai vào ngày 10 – 14 của
bệnh: có chuyển đổi huyết thanh hoặc tăng hiệu giá kháng
thể gấp 4 lần (làm bằng kỹ thuật ELISA, hoặc HIA).
Tìm kháng thể IgM (nhiễm trùng mới) từ ngày thứ 5 trở đi với kỹ
thuật MAC ELISA.
Tìm kháng thể IgG (nhiễm trùng cũ) từ ngày thứ 5 của bệnh
với ELISA hoặc HIA.
Đối với SXHD nặng bao gồm sốc SXHD, xuất
huyết nặng và tổn thương tạng nặng. Sốc SXHD được
chia ra hai mức độ là sốc SXHD và sốc SXHD nặng. Sốc
SXHD bao gồm mạch nhanh, nhẹ, huyết áp kẹp hoặc tụt,
kèm theo các triệu chứng như da lạnh, ẩm, bứt rứt hoặc
vật vã li bì.
Sốc SXHD nặng: sốc nặng, mạch nhẹ khó
bắt, huyết áp không đo được.
Trường hợp bệnh nhân xuất huyết nặng sẽ có các triệu chứng:
Chảy máu mũi nhiều, rong kinh nặng, xuất huyết trong cơ
và/hoặc phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa hoặc
xuất huyết nội tạng. Các biểu hiện xuất huyết này
ảnh hưởng đến sinh hiệu, dung tích hồng cầu (DTHC) và
đòi hỏi có can thiệp thích hợp.
Tổn thương tạng nặng có các triệu chứng: Gan tổn thương nặng với AST, ALT > 1000 U/L.
Suy thận cấp. Hệ thần kinh trung ương rối loạn tri giác.
Vêm cơ tim, suy tim. Suy chức năng các cơ quan khác.
Về nguyên tắc điều trị, điều trị chính là bù nước, điện giải và hạ nhiệt.
Các bác sĩ sẽ xác định nguồn bệnh, phân độ chính xác
và theo dõi diễn tiến để điều chỉnh cách xử lý. Trong
điều trị SXHD cần lưu ý các trường hợp đặc biệt
như phụ nữ mang thai, trẻ nhũ nhi, người béo phì, người
cao tuổi; bệnh nhân có bệnh lý kèm theo như đái tháo đường,
viêm phổi, hen phế quản, bệnh tim, bệnh gan, bệnh thận
…; người sống một mình hoặc nhà ở xa cơ sở y tế
nên xem xét cho nhập viện theo dõi điều trị.
Đối với chăm sóc và theo dõi người bệnh
sốc SXHD bao gồm giữ ấm; khi đang có sốc cần
theo dõi mạch, huyết áp, nhịp thở từ 30-60 phút một lần.
Đo DTHC mỗi 1 – 2 giờ 1 lần, trong 6 giờ đầu của sốc.
Sau đó mỗi 4 giờ hoặc 6 giờ nếu tình trạng sốc ổn
định. Kiểm tra DTHC tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng.
Tình trạng sốc được theo dõi tối thiểu là 24 giờ, có
thể kéo dài đến 48 giờ hoặc hơn; Ghi lượng nước xuất
và nhập trong 24 giờ, lượng nước tiểu mỗi 8 – 12 giờ;
Theo dõi tình trạng thoát dịch vào màng bụng, màng phổi,
màng tim; Theo dõi tình trạng xuất huyết da niêm, xuất huyết
tiêu hóa, xuất huyết những nơi tiêm chích hoặc làm phẫu
thuật. Đánh giá mức độ nặng của các biểu hiện xuất
huyết để xử trí thích hợp.
Anh Huy