[Đăng ngày: 05/03/2018]
Hội chứng ngừng thở khi ngủ do tắc nghẽn là bệnh lý mới được nghiên cứu sâu trong vài chục năm gần đây.

Năm 1965, Gastaut và cộng sự là những người đầu tiên mô tả hội chứng ngừng thở khi ngủ đầy đủ trên những người béo phì dựa vào đa ký giấc ngủ. Đến nay, theo nhiều kết quả nghiên cứu, yếu tố nguy cơ lớn của ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ là tuổi cao, trung niên hoặc những nam giới béo phì. Thống kê ở Mỹ, hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn ở nam từ 4 – 24%; ở nữ từ 2 – 9%. Hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ cũng như các rối loạn giấc ngủ khác thường tăng dần lên theo tuổi. Nghiên cứu cộng đồng cho thấy tỷ lệ này từ 5 – 7% ở nhóm người trên 60 tuổi. Do vậy xác định được các yếu tố nguy cơ, có biện pháp kiểm soát yếu tố nguy cơ đối với người bệnh là thực sự cần thiết.

Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thanh Bình cùng cộng sự Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang, báo cáo đề tài “Các yếu tố nguy cơ của hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ”. Đối tượng nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân được chẩn đoán xác định có hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ tháng 1/2009 đến tháng 12/2012. Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng ngừng thở khi ngủ tắc nghẽn theo Hiệp hội Giấc ngủ Hoa Kỳ. Những bệnh nhân đang có bệnh lý cấp tính, bệnh nhân mắc bệnh lý tâm thần, bệnh nhân không tự nguyện tham gia nghiên cứu không được mời tham gia nghiên cứu.

BS Thanh Bình báo cáo, trong số 60 đối tượng nghiên cứu có 42 bệnh nhân nam, 18 bệnh nhân nữ. Độ tuổi trung bình 58,68 tuổi. Tuổi thấp nhất 29, tuổi cao nhất 85. Bệnh nhân nhóm tuổi 51 – 60 chiếm tỷ lệ cao nhất 30% đối tượng nghiên cứu.

Theo nhiều nghiên cứu cho thấy, có mối liên quan chặt chẽ giữa tuổi và ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ: mỗi khoảng 10 năm tuổi, tỷ lệ ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ tăng lên với OR = 2,2. Tỷ lệ ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ tăng lên dần đến tuổi 60 và giữ nguyên ở mức 20%.

Có những kết quả nghiên cứu cho thấy, ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ có tỷ lệ cao nhất ở độ tuổi 50 – 70. Tác giả nghiên cứu giải thích, khi tuổi cao, kiểm soát hệ thống hô hấp bị suy giảm, lớp mỡ quanh hầu tăng lên phản xạ vùng hầu họng và khả năng thích ứng của phổi giảm là những yếu tố thuận lợi dễ dẫn đến ngừng thở.

Trong nghiên cứu, số bệnh nhân nam mắc hội chứng ngừng thở khi ngủ nhiều hơn gấp 2 lần so với nữ. BS Bình giải thích có yếu tố liên quan đến giới tính. Đối với nữ giới có khả năng tăng hoạt động giãn cơ đường hô hấp trên cao hơn, từ đó giảm bớt nguy cơ đóng đường hô hấp trong khi ngủ.

Cấu trúc mô mềm của đường hô hấp trên ở nam nhiều hơn ở nữ, bên cạnh đó mô mỡ ở đường hô hấp trên của nam nhiều hơn so với nữ vì nam giới có xu hướng phân bố mỡ ở phần trên cơ thể, khác với nữ giới phân bố mỡ ở phần dưới cơ thể. Một nguyên nhân khác là yếu tố nội tiết tố nữ cũng có tác dụng bảo vệ trong trường hợp bệnh nhân mắc chứng ngừng thở do tắc nghẽn. Một vấn đề nữa là tỷ lệ ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ tăng cao gấp 2 lần, 3 lần ở nhóm đối tượng phụ nữ mãn kinh so với nhóm phụ nữ chưa mãn kinh.

BS Bình lưu ý, béo phì là yếu tố nguy cơ chính, đặc biệt là béo ở phần trên cơ thể. Béo phì thường gặp ở bệnh nhân hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ, nhưng không gặp ở bệnh nhân có hội chứng kháng đường hô hấp trên. Tỷ lệ ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ tăng lên theo mức độ béo của cơ thể; 60 – 70% bệnh nhân quá cân và béo phì có mắc chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ; 2 yếu tố này có liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy chế độ giảm cân có tác dụng giảm mức độ nặng của hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ; giảm 5 – 10% cân nặng có tác dụng giảm 10 – 35% chỉ số ngừng thở do tắc nghẽn hàng đêm.

Tác giả nghiên cứu giải thích, béo phì làm tập trung mỡ ở một số vùng đặc biệt, quanh khu vực đường hô hấp trên và làm hẹp khẩu kính đường hô hấp trên dễ dẫn đến nguy cơ ngừng thở. Vòng cổ lớn là yếu tố quan trọng để dự đoán cho hội chứng; cụ thể vòng cổ trên 48cm có nguy cơ cao; vòng cổ dưới 37cm có nguy cơ rất thấp. Trong nghiên cứu, tác giả báo cáo có 21,4% bệnh nhân nam có vòng cổ trên 42cm; 22% bệnh nhân nữ có vòng cổ trên 40cm. Chỉ số khối cơ thể BMI trong nghiên cứu trung bình là 25. Có đến 80% BMI trên mức bình thường; ở nam có BMI cao hơn nữ giới. Những bệnh nhân đái tháo đường, béo phì, vòng bụng lớn, BMI cao mức độ mắc bệnh cũng tăng cao hơn.
Hồng Sơn

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 183

Số lượt truy cập: 9290233

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang