
BSCKI. Nguyễn Thị Hồng Sinh vừa qua đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm Dịch tễ học và tình hình điều trị bệnh Giang mai tại Bệnh viện Da Liễu Khánh Hòa”.
Nghiên cứu được tiến hành chọn tất cả bệnh nhân được chẩn đoán bệnh Giang mai tại Bệnh viện Da liễu tỉnh Khánh Hòa từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2014. Kết quả có 201 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Giang mai được ghi nhận trong tổng số gần 177.000 người đến khám tại Bệnh viện Da liễu Khánh Hòa giai đoạn 2010-2014.
Theo báo cáo của BS. Hồng Sinh, số bệnh nhân Giang mai lần lượt phát hiện qua các năm của Bệnh viện là năm 2010 có 32 trường hợp; 2011 có 36 trường hợp, 2012 có 41 trương hợp, năm 2013 có 60 trường hợp và năm 2014 có 32 trường hợp được ghi nhận. Nếu tính tỷ lệ số bệnh nhân mắc bệnh Giang mai so với số bệnh nhân mắc các Bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) năm cao nhất là năm 2013 với tỷ lệ là 10,08%; còn lại dao động ở tỷ lệ 6% đến 8,3%. Tính chung tỷ lệ trung bình mắc Giang mai là 7,56% trong tổng số bệnh nhân mắc BLTQĐTD đến khám tại Bệnh viện.
Đối với tỷ lệ nam/nữ, nam giới được ghi nhận 136 trường hợp chiếm tỷ lệ 67,6% nhiều gấp đôi so với nữ giới xét về độ tuổi, độ tuổi 15-49 tuổi có 141 trường hợp, chiếm tỷ lệ hơn 70%; độ tuổi từ 50 trở lên chiếm gần 30%; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Tp. Nha Trang có số bệnh nhân mắc Giang mai được phát hiện nhiều nhất với 105 trường hợp chiếm 52,2%, tiếp theo là thị xã Ninh Hòa 14,4%; Tp. Cam Ranh 10,4%; huyện Vạn Ninh 7,4%; các tỉnh khác phát hiện gần 6,5%.
Phân tích các yếu tố nguy cơ, BS. Hồng Sinh cho biết đối với tiền sử quan hệ tình dục không an toàn chiếm tỷ lệ cao nhất với 70,6%; yếu tố có vợ hoặc chồng mắc bệnh Giang mai chiếm tỷ lệ gần 4% yếu tố thai nghén có tỷ lệ gần 7%. Có hơn 18% không rõ yếu tố nguy cơ. Về phân bố theo giai đoạn lâm sàng được chia 3 nhóm Giang mai I, Giang mai II và Giang mai kín. Đa số là bệnh nhân Giang mai kín chiếm tỷ lệ 67,6%; tuy nhiên số bệnh nhân Giang mai II tăng dần từng năm; từ 4% năm 2010 lên 10% năm 2012 và 20% giai đoạn 2014. Tổng số có 64 trường hợp Giang mai II chiếm 31,8%. Đối với giai đoạn lâm sàng Giang mai I chỉ có 01 trường hợp được ghi nhân.
Đối với tình hình điều trị bệnh nhân Giang mai tại Bệnh viện, số bệnh nhân được điều trị tăng hàng năm, và tỷ lệ chung của năm là 82,41%. Trong vài năm gần đây, số lượng bệnh nhân Giang mai tại Khánh Hòa tăng nhanh so với dự kiến nên có lúc nguồn thuốc không đủ cung ứng điều trị, tuy nhiên trong ba năm trở lại đây, nguồn cung ứng thuốc đầy đủ nên số lượng bệnh nhân được điều trị nhiều hơn ngoại trừ những trường hợp dị ứng thuốc hoặc từ chối điều trị do sợ ảnh hưởng thai nhi, hoặc các bệnh nhân của tỉnh khác đi công tác không chấp nhận ở lại điều trị.
Tình hình theo dõi sau điều trị trong vòng ba tháng đầu tiên chiếm tỷ lệ cao nhất 74,13%; sau sáu tháng và mười hai tháng, số lượng này giảm hẳn. Vì không được theo dõi đều đặn sau điều trị nên người bệnh sẽ là nguồn lây nhiễm cho cộng đồng nếu kèm theo là các hành vi quan hệ tình dục không an toàn. Cũng vì vậy, nghiên cứu không thể tổng kết được kết quả của điều trị trên từng ca bệnh.
BS. Nguyễn Thị Hồng Sinh đã có kết luận cho nghiên cứu là: Đối với đặc điểm dịch tễ học của nhóm bệnh nhân Giang mai tại Bệnh viện Da liễu Khánh Hòa 2010-2014; Tỷ lệ của bệnh Giang mai với các BLTQĐTD khác: Tỷ lệ bệnh nhân Giang mai trên tổng số bệnh nhân STIs là 7,56%; Phân bố theo độ tuổi và giới tính: Bệnh nhân Giang mai trong nhóm tuổi 15-49 chiếm 70,15%, ≥ 50 tuổi chiếm 29,85%. Bệnh nhân Giang mai nam chiếm 67,66%; nữ 32,34%; Phân bố theo địa dư: Tỷ lệ bệnh nhân Giang mai ở Tp. Nha Trang 52,24%; Phân bố theo các yếu tố nguy cơ: Quan hệ tình dục không an toàn chiếm 70,65%; Phân bố theo lâm sàng: Bệnh nhân Giang mai kín chiếm tỷ lệ 67,66%, bệnh nhân Giang mai II chiếm tỷ lệ 31,84%. Tình hình điều trị bệnh nhân Giang mai tại Bệnh viện Da liễu Khánh Hòa từ 2010-2014; Tỷ lệ bệnh nhân được điều trị: Tỷ lệ bệnh nhân Giang mai được điều trị chiếm 82,41%; Tình hình theo dõi sau điều trị: tỷ lệ theo dõi sau điều trị trong vòng ba tháng đầu tiên chiếm 74,13%.
BS. Nguyễn Thị Hồng Sinh đã đưa ra một số kiến nghị Giang mai là một bệnh lý lây truyền qua đường tình dục diễn tiến kéo dài có thể không có triệu chứng, chỉ phát hiện tình cờ khi kiểm tra sức khỏe, đặc biệt ảnh hưởng đến phụ nữ và gây dị tật thai nhi. Và cho đến nay, Giang mai cũng như các bệnh STIs vẫn là vấn đề thời sự xã hội cùng với các tệ nạn xã hội khác như mại dâm, ma túy, lối sống tự do tình dục. Vì vậy cần có những tác động sâu rộng hơn trong công tác truyền thông cộng đồng nhằm thay đổi hành vi hoạt động tình dục đặc biệt trong giới trẻ, hướng dẫn người bệnh đến đúng cơ sở y tế để được điều trị kịp thời, để có thể thay đổi giảm tỷ lệ mắc các BLTQĐTD trong cộng đồng.
Trần Hưng