
Khối u vú thường được phát hiện qua thăm khám lâm sàng, có thể lành tính hoặc ác tính. Các khối u vú lành tính thường gặp là u xơ tuyến vú với tỷ lệ 50%, đối với loạn sản lành tính tuyến vú là 13%. Ung thư tuyến vú chiếm khoảng 10% trường hợp.
Các tổn thương lành tính tuyến vú có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp nhất là độ tuổi 15-30. Ước tính có khoảng 7-13% nữ giới trong độ tuổi sinh đẻ có u xơ tuyến vú, chiếm 50% các trường hợp tiểu phẫu lấy u vú.
Theo các chuyên gia ngành ung thư, ung thư vú hiện là ung thư phổ biến nhất; ung thư vú là nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất ở phụ nữ trên toàn thế giới. Thống kê năm 2008, ung thư vú ở miền Bắc có tỷ lệ 27,3 phụ nữ/100.000 người; ở miền Nam tỷ lệ 17,1/100.000 người; đứng thứ hai sau ung thư cổ tử cong. Các yếu tố nguy cơ gây ra ung thư vú gồm tiền sử gia đình có người mắc ung thư vú, có kinh nguyệt lần đầu sớm, mãn kinh muộn, sinh con đầu lòng muộn, sử dụng thuốc tránh thai kéo dài, chiếu xạ vào vùng ngực.
Hiện nay, nhờ những tiến bộ trong sàng lọc phát hiện sớm, có nhiều thành quả trong điều trị; đặc biệt là điều trị đa mô thức gồm phẫu thuật, hóa chất, xạ trị, điều trị đích; do vậy tỷ lệ mắc bệnh gia tăng nhưng tỷ lệ tử vong vẫn ổn định. Các chuyên gia nhấn mạnh, ung thư vú là bệnh có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm. Các phương pháp sàng lọc nhằm phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm là tự khám vú hàng tháng; khám định kỳ sau 30 tuổi, đặc biệt là chụp X-quang tuyến vú có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện các khối u vú mà trên lâm sàng chưa thấy được.
Từ tháng 3/2015 đến tháng 11/2015, nhóm tác giả Phạm Cẩm Phương cùng cộng sự Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu- Bệnh viện Bạch Mai phối hợp cùng Quỹ Ngày mai tương sáng; Hội Thầy thuốc trẻ Hà Nội tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả tư vấn, khám sàng lọc, phát hiệm sớm ung thư vú ở nữ giới”. Đối tượng nghiên cứu là 1.609 phụ nữ trên 15 tuổi ở TP Hà Nội và các tỉnh lân cận. Phương tiện kỹ thuật gồm khám lâm sàng tuyến vú, siêu âm tuyến vú, chụp X-quang tuyến vú. Có hai đợt khám, đợt 1 là ngày 8/3/2015, đợt 2 từ tháng 10-11/2015.
BS.Phạm Cẩm Phương phân tích báo cáo, trong tổng số 1.609 phụ nữ được khám sàng lọc, có 62,4% đối tượng đến từ Hà Nội, có 37,6% đến từ các tỉnh khác. Độ tuổi 40-59 chiếm tỷ lệ 72,6%; độ tuổi dưới 30 và trên 60 chỉ chiếm 11,4%. Qua khám sàng lọc, nhóm nghiên cứu báo cáo có 285 trường hợp có u trên lâm sàng chiếm tỷ lệ 20,1%. Độ tuổi có u hay gặp nhất là 30-59 tuổi (93,7%). Độ tuổi trên 60 và dưới 30 tuổi có u chỉ 6,3%. BS.Phương lưu ý, ở các nước tiên tiến, việc khám sàng lọc vú được triển khai rộng rãi, phát hiện các trường hợp bất thường sớm, còn trong nghiên cứu độ tuổi 40-59 chiếm tỷ lệ có u bất thường tuyến vú nhiều hơn do được khám phát hiện muộn hơn.

Theo nhóm nghiên cứu, u vú là khối u có thể phát hiện dễ dàng qua thăm khám lâm sàng khi khối u có kích thước lớn hơn 1cm và thường do người bệnh tự sờ thấy. Trong nghiên cứu, tác giả báo cáo có 324/1.609 phụ nữ tự khám vú hàng tháng, chiếm tỷ lệ 20,1%. Trong cố 285 trường hợp được khám phát hiện thấy u vú, chỉ có 92/285 đối tượng có ý thức tự khám vú và phát hiện thấy tổn thương (32,3%). Như vậy, có đến gần 70% trường hợp có u vú nhưng không tự phát hiện thấy u vú, đây là nguyên nhân đa số ung thư vú phát hiện ra đã ở giai đoạn muộn. BS.Phương khuyến nghị cần đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm nâng cao ý thức tự khám vú cho phụ nữ.
Theo tác giả nghiên cứu, nguyên nhân của u xơ tuyến vú chưa được biết rõ, có thể liên quan đến sự biến đổi của hormon sinh dục. Các khối u xơ tăng kích thước trong thời gian mang thai, trước chu kỳ hành kinh hoặc ở những phụ nữ sử dụng liệu pháp hormon và giảm dần kích thước sau khi mãn kinh. Trong nghiên cứu có sự phù hợp với nguyên nhân này, có 221 phụ nữ chưa mãn kinh phát hiện có u vú (77,5%); trong nhóm phụ nữ đã mãn kinh chỉ phát hiện có 64 trường hợp chiếm tỷ lệ 22,5%. Tác giả nghiên cứu lưu ý, trong số trường hợp phát hiện có u chỉ có 45 phụ nữ có tiền sử dùng thuốc tránh thai (15,8%), còn lại là 84,2% không sử dụng thuốc tránh thai.
BS.Phương báo cáo, qua khám sàng lọc phát hiện 05 trường hợp ung thư vú chiếm tỷ lệ 1,8%. Trong đó có 03 bệnh nhân ở giai đoạn 1, 01 bệnh nhân ở giai đoạn 2 và 01 bệnh nhân ở giai đoạn 3 có u xâm lấn thành ngực. Có 01 trường hợp ung thư vú có kích thước khối u lớn 5cm, khối u xâm lấn có khả năng điều trị khỏi bệnh hoàn toàn. Tác giả nghiên cứu cho biết nhóm nghiên cứu đã thông qua chương trình tư vấn khám sàng lọc đã hướng dẫn cách tự khám vú hàng tháng cho đối tượng, phân phát tờ rơi, cung cấp dịch vụ địa chỉ liên lạc.
BS.Phạm Cẩm Phương khuyến nghị nên tổ chức các hoạt động tư vấn khám sàng lọc định kỳ cho phụ nữ trên 30 tuổi, đặc biệt là đối tượng có nguy cơ cao, phát tờ rơi tuyên truyền hướng dẫn cách tự khám vú để phát hiện sớm các trường hợp bệnh lý tại vú, từ đó có giải pháp điều trị hợp lý, nâng cao sức khỏe của phụ nữ.
Trần Mai