Dị dạng mạch máu não bao gồm những bất thường bẩm sinh hệ thống mạch máu não. Dị dạng mạch máu não có dị dạng động tĩnh mạch não và dị dạng tĩnh mạch kiểu hang, đây là những dị dạng nguy hiểm, để lại nhiều biến chứng nhất.

Theo các chuyên gia tim mạch, chụp cắt lớp vi tính 64 dãy não, mạch máu não luôn là kỹ thuật được lựa chọn đầu tiên để phát hiện các dị dạng mạch não. Chụp cắt lớp vi tính cho phép tái dựng hình mạch não, xoá cấu trúc não và quan sát hình ảnh mạch trên không gian ba chiều. Việc thực hiện chụp cắt lớp vi tính não, mạch não 64 dãy để xác định các dị dạng mạch máu não là một biện pháp quan trọng giúp các bác sĩ can thiệp thần kinh thực hiện thành công can thiệp mạch não.
Từ tháng 4/2016 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Xuân Hiền cùng cộng sự Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Bạch Mai tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang đề tài “Đặc điểm hình ảnh của chụp cắt lớp vi tinh 64 dãy trong chẩn đoán chảy máu não do dị dạng mạch máu não tại Bệnh viện Bạch Mai”. Có 64 bệnh nhân phù hợp được mời tham gia nghiên cứu; tác giả nghiên cứu thu thập thông tin như vị trí dị dạng động tĩnh mạch não ở thuỳ não của não trán, thái dương, đỉnh, chẩm, hố sâu, một thuỳ hay nhiều thuỳ; thông tin về kích thước dị dạng động mạch não, nhỏ hơn 3 cm; trung bình từ 3-6 cm hay lớn hơn 6 cm. Những động mạch não vào nuôi dị dạng là động mạch não giữa, não trước, não sau, tiểu não trước trên và sau dưới; tĩnh mạch dẫn lưu nông, sâu; dị dạng kết hợp với phình mạch.
BS.Nguyễn Xuân Hiền phân tích báo cáo, trong 64 đối tượng nghiên cứu, nhóm tuổi 40-49 gặp nhiều nhất với tỷ lệ 25,8%; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 41,23. Tỷ lệ nam/nữ là 1,06/1. Trên phim chụp cắt lớp vi tính 64 dãy, hình ảnh xuất huyết não thấy chảy máu trong nhu mô não chiếm 79,3%; chảy máu nhu mô đơn thuần chiếm 55,2%; thể chảy máu nhu mô kết hợp với tràn máu mão thất chiếm 24%. Chảy máu não dưới nhện và chảy máu não thất chỉ chiếm 20,7%.

Về đặc điểm hình ảnh dị dạng mạch não, các ổ dị dạng trên lều chiếm đa số trường hợp, chủ yếu gặp ở các thuỳ não, hay gặp nhất là thuỳ trán và thuỳ thái dương. Đối với kích thước của ổ dị dạng loại trung bình 3-6cm chiếm tỷ lệ 36,4%; ổ dị dạng kích thước nhỏ chiếm 51,3%; loại có kích thước lớn chiếm 33%. BS.Hiền cho biết, các mạch cấp máu cho ổ dị dạng có thể được cấp máu từ nhiều động mạch, có thể được cấp máu từ hệ cảnh trong hoặc hệ sống nền, hoặc kết hợp cả hai. Cá biệt có dị dạng động tĩnh mạch não được nuôi bởi động mạch não trước và não sau (1,6%). Thường các ổ dị dạng được cấp máu bởi 2-3 cuống nuôi chiếm tỷ lệ cao hơn so với một cuống nuôi duy nhất. Đối với tĩnh mạch dẫn lưu, có nhiều nghiên cứu nhận xét ổ dị dạng được dẫn lưu bởi tĩnh mạch dẫn lưu sâu có nguy cơ xuất huyết cao hơn so với ổ dị dạng được dẫn lưu bởi tĩnh mạch dẫn lưu nông. Tĩnh mạch dẫn lưu nông và tĩnh mạch dẫn lưu sâu có sự khác nhau về đặc điểm giải phẫu, các tĩnh mạch dẫn lưu sâu có ít vòng nối và đổ về tĩnh mạch não lớn Galen và xoang thẳng; còn tĩnh mạch dẫn lưu nông lại có nhiều vòng nối đổ vào xoang tĩnh mạch dọc trên ở phía sau và các tĩnh mạch sylvian ở phía sau. Các tác giả nghiên cứu cho rằng các tĩnh mạch dẫn lưu nông có khả năng thích ứng cao hơn so với sự biến đổi huyết động học tạo ra sự hiện diện của ổ dị dạng.
BS.Nguyễn Xuân Hiền báo cáo, về ổ dị dạng kết hợp với túi phình động mạch chiếm tỷ lệ 6,1%; ổ dị dạng kết hợp với túi giả phình chiếm tỷ lệ 15,1%. Các nghiên cứu trong và ngoài nước có nhận xét, có sự liên quan giữa phình mạch với dị dạng động tĩnh mạch, tuy nhiên vẫn chưa có những hiểu biết rõ ràng về sinh lý bệnh học, có tác giả cho rằng phình mạch có thể gặp trong 10% các trường hợp dị dạng mạch não. BS.Hiền cho biết trong nghiên cứu, có 4/64 trường hợp phình mạch đi kèm với dị dạng động tĩnh mạch não; còn ổ giả phình đi kèm có 10 trường hợp.
BS.Hiền có kết luận cho nghiên cứu, nhóm tuổi hay gặp nhất của dị dạng mạch não vỡ là 40-44 tuổi, xuất huyết nhu mô não 79,3%; xuất huyết não thất và xuất huyết dưới 20,6%; có 83,3% ổ dị dạng trên lều; 59% dị dạng có kích thước nhỏ; có 63,5% ổ dị dạng được nuôi bởi các nhánh của động mạch não giữa; 70% ổ dị dạng được cấp máu bởi nhiều nhánh nuôi; 70% ổ dị dạng được dẫn lưu bởi tĩnh mạch dẫn lưu nông; ổ dị dạng có một tĩnh mạch dẫn lưu chiếm tỷ lệ cao với 55%.
Theo các bác sĩ ngoại thần kinh, dị dạng động tĩnh mạch não là một búi các động mạch và tĩnh mạch loạn sản dãn lớn, không có giường mao mạch, không có mô thần kinh bên trong, có động mạch nuôi và tĩnh mạch dẫn lưu. Biểu hiện thường gặp là xuất huyết, động kinh và cơn thoáng thiếu máu não; nguy cơ xuất huyết khoảng 2-4%/ năm. Trên lâm sàng bệnh nhân đau đầu, co giật, xuất huyết (50%); hiệu ứng choáng chỗ, thiếu máu não, tăng áp lực nội sọ. Tiêu chuẩn vàng chẩn đoán dị dạng động tĩnh mạch não là chụp mạch não xoá nền (DSA); MRI sọ não có cản từ để giúp bác sĩ chẩn đoán, định vị thương tổn và chiến lược điều trị cho bệnh nhân.
Lâm Quyên