Theo bác sĩ Vũ Quốc Đạt, bộ môn truyền nhiễm Trường Đại học Y Hà Nội, bệnh do Cytomegato virus (CMV) là một trong những bệnh phối hợp thường gặp ở bệnh nhân nhiễm HIV.

Virus Cytomegalo là loại virus thuộc nhóm Herpes, tên gọi từ tế bào bị nhiễm virus phồng to lên. Đây là tác nhân có thể gây nhiều bệnh cho mọi nhóm tuổi, từ những bất thường bẩm sinh đến các rối loạn bệnh lý, đặc biệt ở người suy giảm miễn dịch.
CMV có mặt ở khắp nơi trên thế giới, chỉ gây dịch nhỏ. Cuộc sống cộng đồng và vệ sinh cá nhân kém là điều kiện thuận lợi cho sự lây truyền bệnh; khoảng 1% sơ sinh nhiễm CMV, tỉ lệ này cao hơn ở các nước đang phát triển.CMV có thể hiện diện trong sữa mẹ, nước miếng, phân người và nước tiểu. Sự lây truyền theo nhiều kiểu khác nhau. Nhiễm ở tuổi chu sinh và trẻ em nhỏ xảy ra rất thường xuyên. Giai đoạn sớm thì truyền qua nhau thai, trong lúc sinh và trong sữa mẹ. Ở trẻ nhỏ thì truyền qua nước bọt. Lúc lớn thì truyền qua đường sinh dục, CMV hiện diện âm thầm trong tinh dịch và dịch tiết cổ tử cung. Nó cũng truyền qua đường máu hoặc ghép cơ quan. 80% người lớn có kháng thể.
Khoảng 40-80 % người lớn bị nhiễm CMV tại Hoa Kỳ trước tuổi 40. Ở các nước đang phát triển tỉ lệ này cao đến 90 %.CMV có tính đặc hiệu loài và tế bào, về cấu trúc và hình dạng tương tự như những herpesvirus khác, nhưng CMV chỉ có đơn độc 1 serotýp.Virus thường ẩn trong nguyên bào sợi để phân chia và tăng trưởng, được phân lập từ tế bào biểu mô ký chủ và tạo nhiều thể vùi.

Về sinh bệnh học, người là ký chủ tự nhiên. Lây truyền từ người sang người. Dòng CMV động vật không gây bệnh cho người. Đa số người bị nhiễm phát hiện được nhờ xét nghiệm.Tỉ lệ mắc tăng lên ở những người nhận cơ quan ghép, hóa trị trong ung thư… Biến chứng thường gặp là viêm phổi, đặc biệt viêm phổi kẽ.Một khi đã bị nhiễm thì người bệnh sẽ mang CMV suốt đời dù cho không có triệu chứng. CMV thường ngủ yên trong tế bào bạch cầu, sự tái hoạt CMVcó thể xảy ra khi các tế bào miễn dịch Lympho T bị suy yếu, do bệnh như nhiễm HIV hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.Trong trường hợp bệnh lan tỏa có thể tìm thấy CMV ở nhiều cơ quan, do sự lan tỏa của các đại bào chứa thể vùi nhưng số lượng đại bào không phản ánh được sự rối loạn chức năng của các cơ quan bị nhiễm.
Về bệnh học, nhiễm CMV ở người lớn và trẻ em lớn gây ra Hội chứng tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng. Thời gian ủ bệnh 20 – 60 ngày, xuất hiện triệu chứng bệnh sau 2 – 6 tuần với các triệu chứng: sốt kéo dài, đôi khi lạnh run, suy yếu, khó chịu; đau cơ, lách to, viêm họng xuất tiết và viêm hạch ở cổ;…bất thường chức năng gan và bệnh lý lympho bào. Bệnh thường nhẹ, hầu hết bệnh nhân hồi phục không di chứng nhưng viêm gan cận lâm sàng lại thường gặp. Rất hiếm khi nhiễm CMV đưa đến tử vong, trừ các trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đặc biệt ở bệnh nhân được ghép thận, ghép tủy bị đè nén miễn dịch để lại biến chứng viêm phổi mô kẽ với tỷ lệ cao.
BS Đạt cho biết, bệnh CMV gây viêm võng mạc bệnh nhân nhìn mờ, có những đám đen hoặc chấm đen di động, những điểm tối trước mắt, bệnh nhân sợ ánh sáng. Đối với viêm đại tràng bệnh nhân gầy sút, đau bụng, tiêu chảy, sốt, có thể gây thủng ruột, xuất huyết tiêu hóa. Bệnh nhân nuốt đau trong viêm thực quản. Bệnh ở hệ thần kinh trung ương sẽ gây sa sút trí tuệ, viêm não, viêm đa rễ thần kinh, dịch não tủy tăng tế bào, protein bình thường.
Soi đáy mắt, trường hợp viêm võng mạc thấy đám hoại tử (màu trắng) ở võng mạc, xuất huyết võng mạc. Đối với viêm đại tràng, thực quản, viêm não thực hiện sinh thiết, dịch bão tủy, máu; nuôi cấy, chẩn đoàn bằng PCR.
Về điều trị, điều trị viêm võng mạc ở người lớn ở giai đoạn tấn công: phác đồ ưu tiên bằng tiêm nội nhãn ganciclovir 2 mg trong 0,05 – 0,1 ml/lần x 2 lần/tuần x 2 tuần kết hợp với valganciclovir 900 mg uống 2 lần/ngày x 14 – 21 ngày. Phác đồ thay thế tiêm nội nhãn ganciclovir 2 mg trong 0,05 – 0,1 ml/lần x 2 lần/tuần x 2 tuần phối hợp với ganciclovir truyền tĩnh mạch 5 mg/kg/lần x 2 lần/ngày x 14-21 ngày; foscarnet truyền tĩnh mạch 60 mg/kg x 3 lần/ngày hoặc 90 mg/kg x 2 lần/ngày trong 14-21 ngày.
Giai đoạn duy trì sử dụng một trong các phác đồ sau: Valganciclovir uống 900 mg uống 1 lần/ngày; Gancyclovir truyền tĩnh mạch 5 mg/kg/ngày; Foscarnet truyền tĩnh mạch 90-120 mg/kg/ngày.
Ngừng điều trị: điều trị CMV trong ít nhất 3-6 tháng; tổn thương do CMV ở dạng bất hoạt; bệnh nhân đã điều trị ARV và có CD4 > 100 tế bào/mm3 liên tục trong 3-6 tháng.
Các bệnh lý khác do CMV như viêm đại tràng và viêm thực quản do CMV điều trị bằng các thuốc uống hoặc tĩnh mạch như trên.
Đối với điều trị CMV ở trẻ em, giai đoạn tấn công dùng phác đồ ưu tiên ganciclovir truyền tĩnh mạch 5 mg/kg/lần x 2 lần/ngày x 14-21 ngày. Phác đồ thay thế foscarnet truyền tĩnh mạch 60 mg/kg/lần x 3 lần/ngày x 14-21 ngày hoặc valganciclovir uống 900 mg (cho trẻ lớn) x 2 lần/ngày x 14-21 ngày. Điều trị duy trì sử dụng một trong các phác đồ ganciclovir truyền tĩnh mạch 5 mg/kg x 1 lần/ngày; valganciclovir uống 900 mg x 1 lần/ngày (uống cùng bữa ăn); foscanet truyền tĩnh mạch 90-120 mg/kg x 1 lần/ngày. Điều trị duy trì cho viêm võng mạc là ganciclovir nội nhãn 6-9 tháng một lần + ganciclovir uống 90 mg/kg/ngày chia 3 lần. Ngừng điều trị duy trì khi điều trị bằng ARV tối thiểu 6 tháng và khi CD4 > 100 tế bào/mm3 đối với trẻ ≥ 6 tuổi và tỷ lệ CD4 > 15% đối với trẻ em dưới 6 tuổi liên tục trong 6 tháng.
Tường Huân