Suy hô hấp là bệnh lý hay gặp trong thời kỳ sơ sinh và là nguyên nhân thường gặp của trẻ sơ sinh vào điều trị tại các đơn vị điều trị tích cực.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ < 5 tuổi tại Việt Nam đẻ non chiếm 27%, ngạt lúc sinh chiếm 10%. Suy hô hấp do nhiều nguyên nhân gây nên như bệnh màng trong; hội chứng hít phân xu; viêm phổi, xuất huyết phổi, tim bẩm sinh… Suy hô hấp sơ sinh cũng được đề cập đến ảnh hưởng của sản phụ có những yếu tố nguy cơ như: tiền sử có thai lần trước cũng suy hô hấp sơ sinh, bà mẹ đái tháo đường thai nghén, bệnh lý thận, bà mẹ có bệnh tim khi mang thai, đa thai, mổ đẻ…
Từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thành Nam cùng cộng sự bệnh viện Bạch Mai, Học viện Quân Y thực hiện nghiên cứu mô tả, tiến cứu báo cáo đề tài “Nguyên nhân yếu tố nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh bị suy hô hấp nặng cần thở máy ngay sau đẻ”.
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu là tất cả trẻ sơ sinh sau sinh tại khoa Sản – Bệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán là suy hô hấp nhập viện điều trị và phải thở máy tại phòng điều trị tích cực sơ sinh Khoa Nhi - Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1/2013 đến tháng 12/2015.
Suy hô hấp: Suy hô hấp là tình trạng rối loạn chức năng hô hấp, do nhiều nguyên nhân, tại phổi hoặc ngoài phổi, gây ra rối loạn trong quá trình trao đổi khí, dẫn đến giảm oxy và/hoặc tăng CO2 máu đông mạch (PaO2 < 50 mmHg, và/hoặc PaCO2 > 60 mmHg, pH < 7,25).
Điều trị: Hồi sức hô hấp: thông thoáng đường thở, cung cấp oxy, hỗ trợ hô hấp khi có chỉ định bằng các phương pháp không xâm nhập-CPAP, hoặc thở máy xâm nhập; Điều trị các nguyên nhân gây suy hô hấp: bệnh màng trong, hít phân xu, viêm phổi, tim bẩm sinh…; Điều trị hỗ trợ: Đảm bảo dinh dưỡng, chống nhiễm khuẩn, đảm bảo thân nhiệt, điều chỉnh các rối loạn điện giải, toan kiềm…
Chỉ định thở máy: Lâm sàng: Tím tái, ngừng thở kéo dài, tái phát; Trẻ đã được đặt nội khí quản hoặc phải bóp bóng trong khi chuyển từ Khoa Sản tới Khoa Nhi mà thở không hiệu quả hoặc ngừng thở, thở ngáp; Sốc hoặc tình trạng ngạt sau đẻ với giảm tưới máu; Thất bại sau khi đã cho hỗ trợ hô hấp bằng thở CPAP, nSIMV.
Cơn ngừng thở kéo dài (> 15 giây kèm nhịp tim < 100 lần/phút hay tím) hoặc xuất hiện 3 cơn ngừng thở/giờ ở trẻ đã dùng Caffeine. Giảm oxy máu nặng: SpO2 < 85% hay PaO2 < 50 mmHg mặc dù đã dùng FiO2 > 60% (trừ bệnh tim bẩm sinh tím). Tăng CO2 máu nặng: PaCO2 > 60 mmHg, pH < 7,25.

Bác sĩ Nam báo cáo, có 139 trẻ sơ sinh suy hô hấp ngay sau đẻ trong đó có 68 trẻ phải điều trị bằng máy thở, trẻ trai là 33 cháu chiếm 48,5% còn trẻ gái là 35 cháu chiếm 51,5%. Trong khi đó ở nhóm không phải thở máy xâm nhập trẻ trai là 47 trẻ chiếm 66,2% trong nhóm. Trong 68 trẻ có 42 trẻ được sinh mổ chiếm 61,7% trong đó mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ là 30 trường hợp chiếm đến 44,1%. Còn nhóm chứng số trẻ sinh mổ là 47 trẻ chiếm 66,2% và mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ chiếm 40,8% (29 trường hợp). Trong số 68 trẻ suy hô hấp phải thở máy có 47 trẻ được ra viện, chiếm tỷ lệ 69,1%, còn nhóm không thở máy xâm nhập ra viện 100%.
Bác sĩ Nam có kêt luận:
- Các nguyên nhân thường gặp gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh chủ yếu là các bệnh lý phổi hoặc liên quan đến phổi như ngạt, bệnh màng trong, viêm phổi … và tim bẩm sinh: còn ống động mạch lớn, tăng áp động mạch phổi… Đây là những nguyên nhân có thể can thiệp được.
- Các yếu tố ảnh hưởng kết quả điều trị thở máy bao gồm: đẻ non, nhẹ cân, mổ đẻ chủ động chưa chuyển dạ, mẹ có bệnh lý nội khoa… Những yếu tố này có thể tiên lượng và can thiệp được như: tổ chức tốt hồi sức sơ sinh ngay sau đẻ với sự kết hợp với bác sĩ Nhi, can thiệp bệnh lý của bà mẹ bằng sự phối hợp chặt chẽ các chuyên khoa sâu trong bệnh viện.
- Tỷ lệ tử vong là 21/68 trường hợp trong nghiên cứu trong đó phần nhiều là trẻ cực non và cân nặng cực thấp, khả năng sống rất thấp.
Anh Huy