APS là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tắc các vi mạch trong bánh rau, từ đó gây nên biểu hiện như sảy thai liên tiếp trong 3 tháng đầu, thai chết lưu, thai chậm phát triển hoặc đẻ non, tiền sản giật nặng…. Theo một nghiên cứu đa trung tâm tiến hành trên 1000 bệnh nhân mắc APS, kết quả cho thấy biến chứng sản khoa hay gặp nhất trong quần thể nghiên cứu là sảy thai liên tiếp chiếm 35,4%, thai sảy-chết muộn chiếm 16,9%, đẻ non 10,6%, tiền sản giật 9,5%, sản giật 4,4%, thai chậm phát triển trong tử cung, thiểu ối. Như vậy các kháng thể aPL có thể gây nên các biến chứng sớm và cả các biến chứng sớm và cả các biến chứng muộn của thai kỳ.

Trong thời gian gần đây đã có nhiều nghiên cứu của Việt Nam tập trung vào vai trò của APS đối với bệnh lý sảy thai liên tiếp. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu lớn nào tập trung vào các biến chứng muộn của APS và mối liên quan của các biến chứng sớm và muộn của APS trong thai kỳ.
Vừa qua nhóm tác giả nghiên cứu Lê Thị Anh Đào cùng cộng sự Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến cứu, phân tích báo cáo đề tài “Tìm hiểu tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung ở thai phụ mắc hội chứng kháng phospholipid”.
APS là một hội chứng còn rất nhiều tranh cãi. Sự hiểu biết về thời gian tồn tại của kháng thể aPL và các thời điểm bùng phát các biểu hiện bệnh lý cũng còn chưa sáng tỏ. Tại hội nghị về APS tại Geneve, Thụy Sỹ, các nhà khoa học đã đưa ra bằng chứng rằng 50-70% số người có kháng thể aPL dương tính sẽ xuất hiện các tình trạng tắc mạch trong vòng 20 năm, 30% còn lại không phát triển thành các bệnh lý của hội chứng này.
Áp dụng trong điều trị, nếu bệnh nhân có tiền sử thai chậm phát triển trong tử cung hoặc thiểu ối hoặc đẻ non hoặc tiền sản giật sớm và nặng hoặc thai chết lưu không rõ nguyên nhân thì cần nghĩ đến APS và cho bệnh nhân thử các xét nghiệm tìm các kháng thể aPL.
Mặc dù sảy thai liên tiếp là một bệnh lý hay gặp nhất của APS trong lĩnh vực sản khoa. Tuy nhiên, bệnh lý thai chết lưu sau 12 tuần mới là một bệnh lý đặc trưng nhất của APS. Khảo sát mối liên quan giữa người có kháng thể aPL dương tính và bệnh lý muộn của thai kỳ trong lần mang thai hiện tại, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh lý muộn của nhóm bệnh nhân dương tính là 47.06%, tương đương kết quả nghiên cứu của Oshiro năm 1996: trong 333 thai kỳ của 76 bệnh nhân mắc APS có đến 50% trường hợp chết thai ở quý II và III và Heilmann L. 2003: tỷ lệ xuất hiện các biến chứng ở quý II và III của thai kỳ ở những bệnh nhân sảy thai liên tiếp mắc APS chiếm đến 50% trường hợp. So với nhóm aPL âm tính, tỷ lệ mắc bệnh của nhóm dương tính cao gấp 5,52 lần, p<0,001. Như vậy, có thể trong quần thể các bệnh nhân sảy thai liên tiếp này, các kháng thể aPL đã tồn tại từ trước đã gây sảy thai liên tiếp và thai chết lưu muộn khi có thai trước đây. Đến lần mang thai này, các kháng thể vẫn tiếp tục đe dọa sự phát triển của thai.

Các bệnh lý muộn APS ở nhóm aPL dương tính 2 lần chủ yếu là thai chậm phát triển trong tử cung, thai chết lưu to, đẻ non, thiểu ối với tỷ lệ dương tính là 23,53%, 2,94%, 20,59%, 17,64%. Các bệnh nhân bị thiểu ối đều đi kèm với tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung. Các biến chứng như sảy thai to, tiền sản giật, tắc mạch sau đẻ không xuất hiện trong nhóm bệnh này. So sánh từng cặp giữa 2 nhóm bệnh nhân sảy thai liên tiếp mắc APS và không mắc APS, biến chứng thai chậm phát triển trong tử cung và thiểu ối là 2 tình trạng gặp với tỷ lệ cao ở nhóm mắc APS, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cân nặng sơ sinh trung bình của bà mẹ nhóm sảy thai liên tiếp mắc APS là (2796,57+605,68 g) cũng thấp hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với cân nặng sơ sinh nhóm không mắc APS (3059,75+523,06 g). Thai nhi của những bà mẹ sảy thai liên tiếp mắc APS vẫn có nguy cơ cao trong suốt thai kỳ và cần được theo dõi sát.
Trong nghiên cứu này, trong 34 bệnh nhân aPL dương tính, có một bệnh nhân được điều trị lovenox và aspirin từ khi thai 5 tuần tuổi đến 30 tuần thì được phát hiện ra tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung. Bệnh nhân được nhập viện để điều trị và theo dõi sát hơn nhưng vẫn sử dụng liều lenovox 20mg/ngày nên sau 2 tuần thai chết. Cả 8/34 bệnh nhân có tình trạng thai chậm phát triển trong tử cung, thời điểm xuất hiện biến chứng này đều sau 26 tuần. Phải chăng việc sử dụng lenovox với liều 20mg/ngày giúp cho thai phát triển tốt qua quý I, II của thai kỳ nhưng không đủ để thai phát triển liên tục từ quý III. Theo một phân tích gộp dựa trên 292 nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, tác giả Ziakas P.D. và Pavlou M. nhận thấy việc phối hợp heparin với aspirin không làm giảm các biến chứng muộn của APS ở quý II, III của thai kỳ. Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ cũng khuyến cáo: liều điều trị aspirin 81mg và heparin 100.000 đơn vị chỉ làm tăng tỷ lệ thai sống nhưng không loại bỏ được hết các biến chứng đẻ non, vỡ ối non, thai chậm phát triển trong tử cung. Nhóm APS có tiền sử tắc mạch trước đó hoặc nhóm APS có tiền sử một lần thai sảy hoặc thai lưu sau 10 tuần liều điều trị thực sự của heparin là 1mg/kg mỗi 12 h (liều cao gấp đôi liều dự phòng đông). Trong quần thể bệnh nhân sảy thai liên tiếp mắc APS có thể ban đầu điều trị heparin với liều thấp nhưng khi xuất hiện các biến chứng muộn thì các bác sĩ cần phải nâng liều điều trị heparin lên gấp đôi? Câu hỏi này mở ra một hướng nghiên cứu mới cho các bác sĩ sản khoa.
Bác sĩ Anh Đào kết luận nghiên cứu, trong quần thể bệnh nhân sảy thai liên tiếp mắc APS các kháng thể aPL đã có thể tồn tại từ thời gian trước và trong lần mang thai này vẫn tiếp tục đe dọa sự phát triển của thai nhi gây sảy thai ở quý I hoặc thai chậm phát triển trong tử cung, thiểu ối nếu không được điều trị sớm và đúng liều lượng.
Huy Hoàng