[Đăng ngày: 25/02/2019]
Ung thư phổi là ung thư phổ biến của hệ hô hấp gây tử vong cao nhất cho nam giới. 

Có 14,1 triệu người mới mắc ung thư thì đến 1,8 triệu người bị ung thư phổi. Đối với ung thư phổi không phải tế bào nhỏ ở giai đoạn sớm có thể phẫu thuật. Song do có độ ác tính cao, tiến triển nhanh và triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên đa số bị phát hiện ở giai đoạn muộn, hoặc đã có di căn hạch. Điều trị vì vậy gặp rất nhiều khó khăn.

Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh nhằm đánh giá các giai đoạn và bản chất của loại ung thư trước khi phẫu thuật như: CT scan, PET, sinh thiết u dưới hướng dẫn của CT hoặc nội soi phế quản dẫn đường là những thành công lớn của y học hiện đại. Hạch N2 dự báo mức độ di căn theo đường bạch huyết đến vùng trung thất cùng bên và hoặc ngay gần carina. Đánh giá bệnh nhân ung thư phổi  có hạch N2 có chỉ định phẫu thuật giúp tiên lượng kết quả điều trị cũng như giúp phẫu thuật viên vét hạch ngăn ngừa di căn và giảm tử vong cho bệnh nhân.

Từ tháng 3/2013 đến tháng 3/2014, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Khôi cùng cộng sự bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật ung thư phổi không tế bào nhỏ có hạch N2”.

Có 82 bệnh nhân tham gia, 50 bệnh nhân nam, 32 bệnh nhân nữ; tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 60; nhỏ nhất 49 và lớn nhất 68 tuổi.

Bác sĩ Nguyễn Văn Khôi phân tích, ung thư phổi không tế bào nhỏ đa số gặp nhiều trong ung thư phổi nói chung thường xảy ra ở nam giới lớn tuổi. Theo Kjetil Roth (2009) tỷ lệ nam giới chiếm 75% so với nữ, tuổi trung bình là 68, đa số phổi phải. Khi so sánh về độ tuổi và giới, vị trí u phổi phải > phổi trái nghiên cứu cũng thấy tương đối phù hợp. BS Khôi cho rằng giới nam với tỷ lệ ung thư phổi cao chứng tỏ thực trạng thói quen hút thuốc vẫn còn phổ biến tại Việt Nam.

Đặc điểm lâm sàng, các phương pháp chẩn đoán và xác định mô học trước mổ. Ho và đau ngực là hai triệu chứng thường gặp nhất trong nghiên cứu. Ho do kích thích niêm mạc phế quản là phản xạ tống xuất dị vật khỏi đường hô hấp – phản ánh tình trạng u xâm lấn vào niêm mạc phế quản . Đau ngực xảy ra khi có xâm lấn màng phổi thành hoặc màng phổi tạng. Theo Bùi Chí Viết (2015), tỷ lệ ho khan và đau ngực là 43,5% và 25,5% thấp hơn nghiên cứu (85%, 8%) có lẽ do tác giả đã chọn bệnh nghiên cứu ở giai đoạn sớm, triệu chứng lâm sàng chưa đa dạng. Ngoài triệu chứng ung thư phổi trên người cao tuổi, ghi nhận do có nhiều bệnh nội khoa đi kèm như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, bệnh lý tim mạch là những nguyên nhân làm phong phú nhiều triệu chứng lâm sàng và thực thể.

Các bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu được chẩn đoán dựa vào các phương tiện hình ảnh để xác định bệnh lý. X quang phổi thẳng thường  quy thực hiện trên 82 bệnh nhân nghiên cứu ghi nhận u trong nhu mô phổi được xác định dựa vào MRI hoặc CT scan. Giá trị chẩn đoán của CT trong nhận diện ung thư phổi là 75-80% với độ nhạy 94% theo nhiều tác giả. Nilendu C Purandare đánh giá hạch trong ung thư phổi trên CT scan hoặc PET CT trước mổ có độ chuyên 94% và độ chính xác là 86% khi xác định nhóm hạch N2 có đường kính > 1,3cm thay vì hạch > 1 cm sẽ gây âm tính giả 21%. CT còn là phương tiện hữu hiệu theo dõi và đánh giá di căn hoặc tái phát sau mổ. Có 79 bệnh nhân xác định nhóm hạch N2 (96%) trước mổ so với MRI (22/24) và PET (16/16) trong nghiên cứu. Tuy nhiên, khác nhau giữa ba phương pháp xác định hạch N2 bằng CT, MRI hay PET không có ý nghĩa về mặt thống kê (T test, P = 0,52, 0,46 và 0,67). MRI và PET là những phương pháp chẩn đoán hình ảnh tương đối đắt tiền và khi đã được chụp CT, đòi hỏi một phương tiện chẩn đoán hình ảnh thứ hai như MRI hoặc PET gây tốn kém thêm cho người bệnh là điều cân nhắc.

Bác sĩ Khôi có kết luận, qua nghiên cứu, nếu ung thư phổi không tế bào nhỏ được phát hiện và chẩn đoán, nếu còn chỉ định, phẫu thuật cắt thùy phổi là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả nay cả khi phát hiện được hạch N2.

Phẫu thuật cắt 1 thùy hay hơn 1 thùy không ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong sau mổ, phẫu thuật mỏ ưu thế nạo vét hạch triệt để hơn so với nội soi khi nạo vét các nhóm hạch N2, đặc biệt nhóm hạch của sổ phế chủ.

Đánh giá lại nhóm hạch N2 sau khi phẫu thuật cho phép hạ bậc giai đoạn, giúp tiện liệu thời gian sống còn cũng như chiến lược điều trị bệnh nhân hiệu quả. Thời gian sống thêm sau 2 năm là 14,3 tuần + 6,5 tuần, gần tương tự như các tác giả nước ngoài.
Anh Duy
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 329

Số lượt truy cập: 9352237

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang