
ThS.Nguyễn Thị Thúy Nga và ThS. Nguyễn Thị Bình An- Trường Y tế Công Cộng- đã có báo cáo nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến duy trì và phát triển nhân lực y tế” tại 8 tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính, thực hiện từ tháng 10/2013 đến tháng 2/2014. Đối tượng phỏng vấn gồm lãnh đạo Sở Y tế, Sở Nội vụ, Giám đốc và trưởng phòng tổ chức cán bộ tại bệnh viện, Trung tâm Y tế Dự phòng, trạm y tế của cả 3 tuyến tỉnh, huyện, xã. Tổng mẫu nghiên cứu định lượng là 834 cán bộ y tế.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam/ nữ xấp xỉ bằng nhau; người địa phương chiếm hơn 88%; gần ½ công tác trong ngành y tế trên 10 năm; tỷ lệ bác sĩ tham gia nghiên cứu chiếm gần 30%; điều dưỡng 26%. Đối tượng nghiên cứu được đào tạo chính quy chiếm hơn 77%; 80% cán bộ trong biên chế.
Đối với chế độ, chính sách đãi ngộ bao gồm lương và phụ cấp của nhà nước có đến gần 50% cho rằng không và rất không thỏa đáng.
Có ¼ ý kiến không hài lòng với chế độ tiền lương; 1/5 cho rằng các loại phụ cấp trực, độc hại, ưu đãi nghề, phòng chống dịch, phụ cấp trách nhiệm và lưu động còn thấp, chưa đáp ứng với nhu cầu thực tiễn. Ngoài chính sách tiền lương, thì chính sách chế độ về thâm niên công tác không có là không hợp lý. Có khoảng 75% nói rằng thu nhập tăng thêm trong khoảng 100.000- 1 triệu đồng/ tháng; trong đó số từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng chỉ chiếm hơn 30%. Có đến 76% cho rằng lý do không có thu nhập tăng thêm là do đơn vị không có điều kiện để làm dịch vụ và có đến 80% cán bộ y tế trả lời không làm thêm gì ngoài công việc chuyên môn để tăng thu nhập. Đây cũng là lý do chính gây ra sự dịch chuyển của các bác sĩ từ cơ sở dự phòng sang hệ điều trị.
Đối với chính sách thu hút nhân tài, hầu hết cá tỉnh nghiên cứu đều có các chính sách thu hút bác sĩ sau đại học về tỉnh; có tỉnh tạo điều kiện về nhà ở, hỗ trợ cho thuê nhà; số tiền hỗ trợ ban đầu và chính sách về nhà ở khác nhau ở các tỉnh, tuy nhiên các hỗ trợ này chỉ có ý nghĩa về khía cạnh thu hút ban đầu còn khó có khả năng giữ chân cán bộ sau đó.
Đối với tuyển dụng nhân lực, quy trình tuyển dụng đa phần không có gì khó khăn, khó khăn chủ yếu là không thu hút được các đối tượng mà đơn vị cần tuyển. Thêm vào đó, do số lượng biên chế giao cho các bệnh viện tính riêng theo thông tư 08, còn kinh phí của các bệnh viện lại giao theo chỉ tiêu giường bệnh, dẫn đến hiện tượng một số nơi không dám tuyển hết chỉ tiêu biên chế nhằm tiết kiệm kinh phí.
Về bố trí, sắp xếp nhân lực, 81% cho rằng công việc hiện tại phù hợp với chuyên ngành đào tạo. Ở một số tỉnh kinh phí hỗ trợ cho cán bộ y tế đi đào tạo còn thấp; “khoảng 300.000 – 500.000 đồng/ tháng, gọi là tiền đi xe, uống nước” nên chưa thật sự khuyến khích cán bộ đi học. Cũng do khó khăn về nguồn kinh phí của tỉnh nên việc triển khai kế hoạch đào tạo của các đơn vị y tế cũng gặp nhiều khó khăn, thêm vào đó do thiếu nhân lực bác sĩ nên dẫn đến áp lực công việc và gây khó khăn cho việc tạo điều kiện để cán bộ y tế đi học nâng cao trình độ.
Tác giả nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra 3 lý do chính làm cho cán bộ y tế có thể chuyển khỏi cơ quan đó là: thu nhập thấp (44,9%); không có cơ hội đào tạo và phát triển nghề nghiệp (28,5%); điều kiện làm việc không đảm bảo (21,1%). Về đơn vị mong muốn chuyển đến thì gần 50% mong muốn chuyển đến các tổ chức tư nhân; 36,3% mong muốn chuyển đến bệnh viện công lập tuyến trên.
Đối với yếu tố nhằm duy trì và phát triển nhân lực y tế, kết quả nghiên cứu chỉ ra 4 yếu tố chính là: chế độ đãi ngộ thỏa đáng (86,8%); cơ sở vật chất, trang thiết bị đảm bảo (65,7%); môi trường làm việc tốt (67,2%) và cơ hội đào tạo, nâng cao trình độ (64,7%).
ThS Nguyễn Thị Thúy Nga và ThS Nguyễn Thị Bình An đã có những kiến nghị cho nghiên cứu của mình như đối với Bộ Y tế cần cải tiến chế độ, chính sách cán bộ y tế nói chung và cán bộ y tế đang công tác tại các vùng khó khăn nói riêng. Tránh tình trạng gây ra sự khác biệt về thu nhập tăng thêm ngoài lương quá lớn giữa các vùng, lĩnh vực. Đối với chính quyền địa phương, Sở Y tế, đơn vị y tế công lập cần khuyến khích cán bộ y tế nâng cao trình độ liên tục thông qua chế độ hỗ trợ tài chính kịp thời và thỏa đáng, độ tuổi giới hạn được trợ cấp đào tạo dài hạn đến 40 tuổi nên được nâng lên và không có giới hạn tuổi đối với đào tạo liên tục. Cuối cùng là cần quan tâm, đầu tư nhiều hơn về ngân sách, cải thiện trang thiết bị, điều kiện làm việc để đảm bảo được sự thu hút, duy trì cán bộ y tế.
Hồng Sơn