Bệnh gút (Gout) là bệnh do rối loạn chuyển hóa các nhân purines dẫn đến tình trạng tăng axit uric mạn tính trong máu gây nên sự lắng đọng các tinh thể muối urat ở các mô, đặc biệt là khớp.

Bệnh gút thường biểu hiện bằng các đợt viêm khớp cấp tính, mạn tính, hình thành các hạt tophi, sỏi thận, suy thận. Hiện nay tỉ lệ bệnh gút, tăng axit uric đang gia tăng nhanh chóng. Có nhiều yếu tố liên quan về tuổi, giới tính, bệnh lý liên quan, sự đáp ứng điều trị, hậu quả của bệnh thay đổi đã làm bệnh gút trở nên khó điều trị. Tỉ lệ mắc bệnh gút trên thế giới từ 1% - 10%. Nguyên nhân của sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh gút là sự phát triển, thay đổi xã hội; tuổi thọ ngày càng gia tăng, tăng tiêu thụ bia, rượu; sử dụng nhiều thức ăn giàu purin, tăng sử dụng thuốc trong bệnh lý tim mạch, bệnh lý hội chứng chuyển hóa tăng nhanh; bệnh nhân bệnh lý thận tăng … Theo các chuyên gia nghiên cứu bệnh gút, tăng axit uric máu không chỉ là yếu tố nguy cơ quan trọng bệnh gút mà còn là yếu tố nguy cơ tim mạch, gia tăng nguy cơ tử vong. Tăng axit uric máu là yếu tố của hội chứng chuyển hóa và gây suy giảm chức năng thận.
Năm 2015 – 2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Chính Nghĩa và cộng sự Bệnh viện Việt Tiệp, Hải Phòng; Trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Nhận xét một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh gút tại Bệnh viện Việt Tiệp, Hải Phòng”.
Theo tác giả nghiên cứu, bệnh nhân được chẩn đoán gút theo tiêu chuẩn ILAR và Omeract năm 2000. Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh tăng axit uric máu đơn thuần. Cỡ mẫu nghiên cứu là 111 bệnh nhân. Độ tuổi trung bình là 61,52. Độ tuổi 40 – 59 gặp 36,9%; 60 – 79 có tỉ lệ 46,8%. Nam giới chiếm 91%; Nữ giới 9%. Ở từng nhóm tuổi tỉ lệ nam giới mắc nhiều hơn nữ giới (p < 0,05). Tác giả cho biết, bệnh gút chủ yếu gặp ở nam giới trên 40 tuổi, ít gặp ở phụ nữ; nếu có thường gặp phụ nữ trên 60 tuổi.
Đa số các cơn gút khởi phát đều có tính chất đột ngột (70,3%); còn lại có tính chất từ từ. Vị trí các khớp viêm chủ yếu gặp ở chi dưới. Viêm khớp bàn ngón chân I (ngón chân cái) có tỉ lệ cao nhất, 50,4%. Tiếp đến là khớp gối, khớp cổ chân; có khoảng 29% viêm đồng thời nhiều khớp.
Điều này phù hợp với vị trí lắng đọng của urat. Những bệnh nhân viêm đồng thời nhiều khớp ở độ tuổi 40 – 59, có thời gian mắc bệnh trên 5 năm và có liên quan nhiều đến rượu bia. Tỉ lệ bệnh nhân có hạt tophi là 54,9%. Đây là biểu hiện của gút mạn tính, tiến triển theo thời gian hoàn toàn phù hợp với lứa tuổi mắc bệnh; hay gặp ở độ tuổi 40 – 59; 60 – 79 tuổi.
BS Nghĩa báo cáo, xét nghiệm nồng độ axit uric máu trung bình đối tượng nghiên cứu là 534,6µmol/l. Có sự tăng dần nồng độ axit uric theo nhóm tuổi. Một số nghiên cứu trong ngoài nước có nhận xét, khi tuổi càng cao axit uric máu càng tăng. Ở nữ độ tuổi mắc bệnh thường 60 – 79 tuổi; có bệnh đồng mắc kèm theo như tăng huyết áp, đái tháo đường có suy tim, suy thận.
Tác giả lưu ý, sự xuất hiện của đường đôi chiếm tỉ lệ 41,4%; điều này do tinh thể được tìm thấy trong bệnh nhân gút phản hồi sóng siêu âm mạnh hơn mô xung quanh như dịch khớp, mô sụn vì vậy có thể nhận biết được. Tỉ lệ đối tượng nghiên cứu tổn thương khớp bàn ngón chân I gặp dấu hiệu đường đôi chiếm tỉ lệ 48,2%; khớp gối gặp 40,7%; khớp cổ chân gặp 35%. Sự xuất hiện của dấu hiệu đường đôi có liên quan đến tăng axit uric máu của bệnh nhân.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, nguy cơ gây tăng axit uric máu của bệnh nhân cao nhất là sử dụng rượu bia trên 10 gam/ngày; tiếp theo là các yếu tố như mắc bệnh tăng huyết áp, nam giới; suy thận mạn, thuốc lợi tiểu, đái tháo đường, bệnh mạch vành, béo phì, các thói quen ăn hải sản và nhiều thịt. Một nghiên cứu quốc tế báo cáo tỉ lệ đái tháo đường trên bệnh nhân gút là 33,1%. Trên bệnh nhân gút có bệnh lý tại thận, có thể là bệnh độc lập hoặc là bệnh thận do gút. Thường có biểu hiện bằng sỏi urat, hiếm gặp là trường hợp có tổn thương thận kẽ. Trong nghiên cứu, BS Nghĩa cho biết, gút xuất hiện ở bệnh nhân có suy thận mạn và dùng thuốc lợi tiểu, tuy nhiên mức liên quan không lớn. Tác giả nhấn mạnh vai trò của tăng axit uric máu với việc xuất hiện bệnh gút cũng như cơn gút cấp đã được xác định; do đó cần hạn chế nguy cơ tăng axit uric máu trong quá trình điều trị bệnh.
Bệnh gút nguyên phát do yếu tố di truyền, cơ địa. Bệnh gút thứ phát, axit uric máu tăng do ăn nhiều thức ăn có chứa nhiều furrin như gan, phủ tạng động vật, thịt, cá, nấm, tôm, cua; uống nhiều rượu. Khi giảm thải axit uric qua thận do viêm thận mạn tính hệ suy thận làm axit uric ứ lại gây bệnh. Gút cấp tính, quá trình viêm xảy ra trong một thời gian ngắn rồi chấm dứt, rồi lại tái phát. Gút mạn tính quá trình lắng đọng urat nhiều và kéo dài, biểu hiện viêm liên tục không ngừng.
Thanh Tùng